Bài mới nhất

Thứ Sáu, ngày 19 tháng 9 năm 2014

Cu Nỡm: BÌNH LUẬN NGẮN VỀ 2 BÀI VIẾT CỦA ĐOAN TRANG

Bình luận ngắn về hai bài viết của Đoan Trang

Đầu tiên là bài "Lại chuyện chụp ảnh công an":

1. Chị này khoe chụp ảnh với một anh cảnh sát cao to đẹp trai, rất thân thiện đứng ở tượng Con Trâu gần phố Wall. Có lẽ chị nhà báo này không biết rằng cơ quan cảnh sát Hoa Kỳ có cục Quan Hệ Công Chúng chuyên nghiệp chứ không phải là Ban Báo Chí như ở Bộ Công An ở Việt Nam. Anh cảnh sát cao to đẹp trai đầy thân thiện đứng ở cái góc phố đông khách du lịch qua lại ấy chính là một phần trong chiến dịch quan hệ công chúng của cảnh sát Hoa Kỳ, công việc của anh ta là đứng đó, chỉ đường và cười tươi khi chụp ảnh chung với du khách. Mỗi ngày sẽ có hàng trăm người đứng đó, hỏi đường chụp ảnh và phát tán các bức ảnh về sự thân thiện của cảnh sát Hoa Kỳ. Đấy PR chuyên nghiệp nó là như vậy.

2. Anh cảnh sát Việt Nam từ chối chụp ảnh với người lạ là hợp lý thôi. Thứ nhất là anh cảnh sát Việt Nam đang đứng chốt làm nhiệm vụ, không phải làm PR như anh cảnh sát Mỹ, chụp ảnh với khách du lịch không phải là công việc của anh ta, làm việc riêng trong khi thành nhiệm vụ có thể bị kỷ luật. Thứ hai nữa là tình trạng phóng viên báo chí hay dân thường gài bẫy chụp ảnh công an hiện giờ khá phổ biến. Nói dại, anh công an chụp ảnh với nữ Việt Kiều xong hôm sau trên facebook lại có tin công an dê gái giữa phố Hà Nội thì anh công an kia chắc chắn là viết giải trình mệt nghỉ.

3. Thế nên việc so sánh giữa Mỹ và Việt Nam nhất là so sánh giữa một cảnh sát đang làm PR với một cảnh sát làm nhiệm vụ thông thường thì quả thật khập khiễng. 

4. Chị này viết: tất cả các vụ cảnh sát lạm quyền ở Mỹ đều được điều tra độc lập và bị đưa ra xét xử, trừng phạt thích đáng bởi tòa án (đương nhiên là độc lập). Cảnh sát Mỹ mà vớ vẩn, dân kiện cho thì vỡ mặt. Và trên thực tế là trong các vụ dân kiện cảnh sát từ trước tới nay, cảnh sát Mỹ thua rất nhiều, te tua vì thua kiện, đã thế còn bị báo chí-truyền thông cho lên thớt mà “băm” tơi tả. Thực ra chị tô vẽ công lý ở Hoa Kỳ hơi quá đáng, người Mỹ mà đọc được có khi người ta cũng ngượng. Cảnh sát Mỹ đối xử bạo lực với thường dân thậm chí lạm sát là chuyện xảy ra như cơm bữa và họ cũng không mấy khi bị trừng phạt thích đáng như chị nói đâu, có thể tham khảo ở đây và ở đây. Cảnh sát Hoa Kỳ cũng ghét nhất là việc bị quay phim hay chụp ảnh khi đang thi hành công vụ, họ sẵn sàng vô hiệu hóa người nào làm việc đó ngay lập tức. Hiện giờ Mỹ vẫn chưa có luật về vấn đề này. Khuyên chị là chụp ảnh với anh cảnh sát đứng góc phố ở New York thì được nhưng nếu thấy cảnh sát đang tóm cổ một ai đó thì chị chớ có dại vác máy ảnh ra mà làm nhà báo độc lập, ăn đòn mềm xương ngay đấy mà cũng không có tòa án nào bảo vệ chị được đâu.


1. Đầu bài sử dụng thuật ngữ kiểu quân sự nhằm ám chỉ sự liên hệ nào đó với chính quyền hay quân đội, một tiểu xảo của giới báo chí nhằm tác động tới tâm lý người đọc, nhất là khi không có bằng chứng cụ thể.

2. Thật ngạc nhiên khi một người yêu nước chống Tàu cuồng nhiệt như chị Đoan Trang lại không nhận thấy rằng trang Tin Khmer Krom chuyên đưa các tin tức kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan và đòi Việt Nam phải trả lại miền Nam Việt Nam cho Campuchia. Trung Quốc đưa dàn khoan vào vùng biển Việt Nam thì các chị nhảy tưng tưng, còn đám dân tộc cực đoan Campuchia đòi lấy một nửa lãnh thổ Việt Nam thì các chị im lặng. Yêu nước kiểu gì mà lạ vậy? 

3. Việc dùng nút "báo cáo lạm dụng" của facebook để triệt hạ đối thủ vốn ban đầu là mánh của các chiến sĩ dân chủ cùng phe với chị Đoan Trang chuyên dùng để chặn họng những người bất đồng ý kiến. Ban đầu có nhiều người yếu thế, họ đành chịu, nhưng sau đó họ tập hợp nhau lại và phản công khiến các nhà dân chủ lãnh hậu quả ê chề. Trong khi không có bằng chứng nào chứng minh chính quyền đứng sau việc phong tỏa các tài khoản facebook của nhà dân chủ thì bằng chứng của việc các nhà dân chủ hè nhau báo cáo lạm dụng để triệt hạ những người nói trái ý họ lại rất rõ ràng.

4. Nhưng sự việc không chỉ dừng ở chỗ các nhà dân chủ đàn áp những người trái ý, bị phản công và kêu là ầm ĩ. Sự việc đã được đẩy lên cao trào khi chính các nhà dân chủ lợi dụng việc đó để khóa mõm các nhóm dân chủ mà họ không ưa, tức là họ tấn công triệt hạ lẫn nhau. Mặt khác một số các nhà dân chủ do đã viết quá nhiều thứ bậy bạ lên facebook nên cũng nhân dịp này xóa luôn tài khoản facebook đi và hô hoán lên là bị report, thật là một công đôi việc, vừa thủ tiêu được bằng chứng về sự ngu xuẩn của bản thân vừa bảo toàn được tiếng với giới dân chủ. Các nhà dân chủ tuyên bố thắng lợi giòn giã, làm thất bại các âm mưu phong tỏa tài khoản facebook, thật nực cười là chính việc bị/được phong tỏa cũng là thắng lợi của nhiều người trong số họ.

5. Các nhà dân chủ hoàn toàn không chứng minh được với Facebook là chiến dịch báo cáo lạm dụng do chính quyền Việt Nam tổ chức nhưng Facebook thì biết rất rõ rằng họ thường xuyên bị cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ (NSA) đột nhập. Người sáng lập Facebook đã phải kêu lên rằng công việc của các kỹ sư thông tin ở Facebook là đối đầu với những tên tội phạm công nghệ thông tin chứ không phải suốt ngày tìm cách chống lại các vụ đột nhập của NSA. Thế nên trước khi lo lắng đến việc các nhà dân chủ bị đàn áp trên facebook thì hãy nhớ rằng bất cứ khi nào thông tin cá nhân của họ cũng có thể nằm trên bàn của NSA và được dùng để chống lại chủ nghĩa khủng bố.

Kết luận: Thế là chấm hết cho một cây viết đã từng khá nổi tiếng ở Việt Nam.

Thứ Năm, ngày 18 tháng 9 năm 2014

BUÔNG TAY ĐỂ RỜI XA HAY LÀ ĐỂ CẦN NHAU HƠN?

Buông tay để rời xa hay là để cần nhau hơn?

Người ta bảo, trong tình yêu, chỉ cần một cái buông tay thôi cũng có thể để người kia rời xa mình mãi mãi… 

Tôi đọc câu chuyện về cái buông tay ấy trong một tối thứ sáu u ám, nhìn ra ngoài cửa sổ ánh đèn đường vàng vọt đến tội nghiệp trong màn sương, nhòa nhạt. 

Câu chuyện đơn giản như thể người ta nghe một tiếng thở dài, vừa quen thuộc lại vừa lạ lẫm. Cũng hun hút và xa ngái như tiếng thở dài của mình. Mà lại khác, vì tiếng thở dài đó dường như có đáy, còn của mình thì vô cùng trong một nỗi u uẩn không thôi.

Ừ thì một người đàn ông và một người đàn bà chia tay nhau, câu chuyện tình yêu nào chẳng vậy. Đời thực, người ta vẫn chia tay nhau đầy ra đấy thôi. Nhiều khi chẳng phải vì người ta không còn yêu nhau nữa. Cũng chẳng phải vì cuộc tình ấy ngắn ngủi, sớm lụi tàn. Nhiều khi, “cuộc tình dài rộng quá lắm khi cũng buồn”. Nhiều khi, tình yêu quá lớn cũng khiến sóng vỡ tan, và người ta đánh mất nhau. Tình yêu mà… Người ta rời nhau có khi chỉ vì một lần lỗi hẹn, một cái nắm tay không chặt hay một nỗi vô tâm khiến người kia hụt hẫng. Yêu nhau là trời biển, nhưng một cái buông tay cũng có thể mãi mãi rời xa.

Tôi hay nhìn những cặp tình nhân đi qua mình. Nhìn cách họ nói cười, âu yếm hay nhìn vào mẳt nhau. Nhìn cách những người đàn ông vòng tay ôm lấy vai người phụ nữ của họ như thể điều đó sẽ đủ để chở che và giữ họ suốt đời. Thế gian có bao cặp tình nhân, có bao nhiêu những câu chuyện tình, nhưng cách người đàn ông và người đàn bà của nhau nhìn vào mắt nhau, nắm lấy tay nhau hay nép vào nhau có lẽ chỉ có một. Và cách người ta rời vòng tay ấm áp của nhau mà đi cũng chỉ có một mà thôi. Đó là khi, một hoặc cả hai người yêu nhau cảm thấy không còn có thể nghĩ và sống bằng trái tim của người còn lại nữa rồi. Dù còn yêu hay không, họ đã không còn là của nhau… 

Tình yêu vốn dĩ là một khái niệm bất định với con người. Bạn sẽ chẳng bao giờ có thể hiểu nổi vì sao có thể “sẵn sàng dành cả cuộc đời mình cho một người, dẫu chẳng thể nào hiểu được, tại sao mình lại yêu người đó đến thế”. Và bạn cũng chẳng bao giờ có thể hiểu vì sao “chỉ cần một cái buông tay thôi cũng có thể để người kia rời xa mình mãi mãi”… 

Yêu nhau là trời biển…… nhưng một cái buông tay cũng có thể mãi mãi rời xa...

Nguồn: FlyingDace

GIẬN TÀU CHÉM CHỮ NHO!

'Tự ái rởm' hay là chuyện 'Giận Tàu, chém chữ Nho'

Hoàng Tuấn Công/blog Tuấn công thư phòng

Bài viết Thưa ông Bộ trưởng Văn hóa, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai? của tác giả Xuân Dương đăng trên báo “Giáo dục Việt Nam”, chúng ta có thể xem như một trong những trường hợp tiêu biểu cho hiện tượng “Giận Tàu, chém chữ Nho”, bài ngoại cực đoan, gây nhiễu loạn thông tin và ngộ nhận về văn hóa truyền thống dân tộc hiện nay. Sau khi đồng tình chủ trương "truy bắt" sư tử Tàu, bình hoa Tàu tùy tiện đưa vào các di tích và lên án việc sử dụng chữ Hán trên hoành phi, câu đối ở các ngôi đền chùa, đặc biệt là loại mới trùng tu, xây dựng, tác giả XD đặt ra câu hỏi:

“Mốt lai căng đang tràn ngập mọi hang cùng, ngõ hẻm, đang len lỏi vào các cơ quan công quyền, vào tận chốn thờ tự linh thiêng vì sao vẫn chưa làm thức tỉnh những người có trách nhiệm ở ngành Văn hóa. Vì sao ngành này và các địa phương mới chỉ để ý đến mấy con sử tử đá mà không chú ý đến những điều sâu sắc hơn, nhạy cảm hơn như hoành phi, câu đối, bia đá… trong di tích?”

Như vậy, chỉ xem cách đặt tên bài viết “Thưa ông Bộ trưởng, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai ?” và trích đoạn trên cũng đủ hiểu, tác giả Xuân Dương xem chữ Hán là phần chìm của tảng băng “văn hóa ngoại lai” và “mốt lai căng” mà Việt Nam cần bài trừ triệt để (!)

Chúng tôi xin được trao đổi đôi điều, những điều mà lẽ ra không cần phải nhắc lại nữa.

1.Chữ Hán có phải là “lai căng”, là “văn hóa ngoại lai” cần phải bài trừ không?

Chưa có bằng chứng nào cho thấy người Việt cổ từng có chữ viết (hiểu theo đúng nghĩa) Không văn tự này thì văn tự khác, chúng ta đều phải sử dụng chữ viết của dân tộc khác. Bởi thế không có cơ sở để nói rằng chữ Hán xâm lăng, triệt tiêu chữ của người Việt. 

Điều đặc biệt là trong không ít cuộc chiến tranh giữ nước, người Việt đã biến chữ Hán-chữ vốn do kẻ đô hộ, xâm lược ấy truyền sang với mục đích đồng hóa, thành một thứ vũ khí lợi hại để đánh và chiến thắng chính kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Trong cuộc kháng chiến chống Tống, Lý Thường Kiệt đã thực hiện kế “Tiên phát chế nhân” soạn bài hịch“Phạt Tống lộ bố văn” bằng chữ Hán, kể tội nhà Tống, thu phục được nhân tâm vùng quân sĩ sẽ đi qua, rồi đem quân đánh sang tận đất Tống, phá thành Ung Châu, triệt hạ kho lương chuẩn bị để xâm lược Đại Việt. Khi giặc Tống xâm lăng, bài thơ thần "Nam Quốc sơn hà" lại vang lên làm giặc phương Bắc rụng rời... Những giai thoại đối đáp chữ nghĩa giữa sứ ta và sứ Tàu khẳng định chữ Hán đã được ông cha ta tiếp thu nhuần nhuyễn, uyên thâm không thua kém gì bên "Thiên triều". Trong khởi nghĩa Lam Sơn, khi vây hãm thành Đông Quan lâm vào thế bế tắc, Lê Lợi đã mưu "phạt tâm công" dùng những bức thư chữ Hán lời lẽ vừa cương quyết vừa mềm mỏng, khôn khéo để dụ Vương Thông đầu hàng, tránh đầu rơi máu chảy và bảo vệ vẹn nguyên kinh thành. Khi thiên hạ đại định,"Bình Ngô đại cáo" bằng chữ Hán lại vang lên sang sảng tự hào: "Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác..." "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có..." (Bản dịch)

Cho tới tận bây giờ, những thư tịch cổ bằng chữ Hán của các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn tiếp tục đứng về phía dân tộc Việt Nam khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, tố cáo với thế giới sự ngang ngược của Trung Quốc. Và nhiều, rất nhiều ví dụ khác không thể kể hết.

Chữ Hán có nguồn gốc ngoại lai, nhưng yếu tố ngoại lai đã được ông cha tiếp thu có sáng tạo, và đã trải qua hàng ngàn năm bồi đắp, chắt lọc, trở thành bản sắc truyền thống dân tộc Việt Nam. Nó khác hẳn kiểu bắt chước, sao chép, vay mượn một cách sống sượng, kệch cỡm của văn hóa lai căng.

Vậy lý do gì ông Xuân Dương xếp chữ Hán vào diện "lai căng", "ngoại lai" cần bài trừ ? 

2.Vì sao hoành phi câu đối lại viết bằng chữ Hán ?

Trong bài viết, ông Xuân Dương luôn thắc mắc, tại sao hoành phi, câu đối trong các đình chùa, miếu mạo, đặc biệt loại mới xây dựng lại không viết bằng chữ Quốc ngữ: “Không nói đến các di tích được trùng tu, rất nhiều công trình tưởng niệm các danh nhân, đình, chùa mới xây dựngnhững năm gần đây (ví dụ chùa ở đảo Bạch Long Vĩ, khu lưu niệm danh nhân Cao Bá Quát – Phú Thụy, Gia Lâm, Hà Nội) hoành phi câu đối đều bằng tiếng Hán. Bao nhiêu trong số chín mươi triệu người Việt ngày nay có thể đọc và hiểu những chữ đó? Chẳng lẽ phải viết bằng chữ Hán thì công trình mới có giá trị lịch sử?”(HTC nhấn mạnh)

Xin thưa: hoành phi, câu đối viết bằng chữ Hán vì nó vốn sinh ra để viết bằng chữ Hán, sinh ra bởi đặc điểm, cách "chơi" của chữ Hán; và hàng ngàn năm qua cha ông ta vẫn viết bằng chữ Hán chứ không phải bất cứ một loại văn tự nào khác. Cao Bá Quát được người đời suy tôn là ông “Thánh” chữ Nho (“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán...”; “Thần Siêu, thánh Quát”). Bởi vậy, việc sử dụng hoành phi, câu đối chữ Nho để tưởng niệm(không phải “lưu niệm” như ông Xuân Dương viết) ông “Thánh chữ” là việc làm hoàn toàn hợp lý. Chỉ có người muốn đưa chữ Quốc ngữ-thứ chữ Tây đã “bóp chết” chữ Nho (Hán cổ) để “tưởng niệm” Cao Bá Quát mới là điều đáng nói.

Với chuyện hoành phi câu đối trong chùa ở đảo Bạch Long Vĩ dùng chữ Hán cũng hết sức bình thường và hợp lý. Bởi đó là nét đẹp truyền thống trong văn hóa và kiến trúc cổ truyền dân tộc, hình ảnh đã in sâu vào tiềm thức của mỗi người. Ngoài đảo xa muôn trùng sóng gió mà lại hiện diện một ngôi chùa Việt có nét đẹp cổ kính, gần gũi như vốn đã tồn tại ở đó hàng trăm năm thì còn gì bằng? Nếu sử dụng chữ Quốc ngữ, thì hàng trăm năm sau, ngôi chùa vẫn chỉ mới như ngày hôm qua. Đình chùa, miếu mạo có nét cổ kính, một chút thâm trầm, bí ẩn cũng tạo được hiệu ứng tâm linh so với những nét quá mới và phô bày lồ lộ trước mắt.

Trở lại vấn đề đang bàn. Do nghĩa lý sâu xa, ý tại ngôn ngoại của chữ Hán, bức hoành phi chỉ cần 3 đến 4 chữ, đôi câu đối mỗi vế 5 hay 7 chữ đã nói lên được rất nhiều điều mà chữ Nôm, chữ Quốc ngữ khó nói được, hoặc phải diễn giải ra tới cả trang giấy. Mỗi chữ Hán dù ít nét hay nhiều nét đều được viết trong một ô vuông. Thư pháp chữ Hán đã có hàng ngàn năm tuổi, kết hợp nghệ thuật điêu khắc, sơn son thếp vàng, mỗi bức hoành phi, câu đối chữ Hán với đầy đủ chương pháp, lạc khoản, trở thành bức thư họa khắc gỗ lộng lẫy. Bởi vậy, hoành phi, câu đối chữ Hán không chỉ biểu đạt nội dung, mà hình thức của nó còn tham gia vào không gian kiến trúc nội thất đình chùa, miếu mạo, tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật chạm khắc gỗ hài hòa với những long ly, quy phượng, hoa văn, hương án, tượng thờ...

Nói về chữ Quốc ngữ, xưa ông bà ta gọi là “chữ Tây” vốn sinh ra để viết theo hàng ngang, nay đưa vào câu đối viết theo hàng dọc là bắt chước cách viết chữ Hán. Mặt khác một chữ Quốc ngữ có khi ít ký tự, nhiều ký tự, thòi ra, thụt vào trên hoành phi, câu đối rất thô, cứng và vô hồn. Trong khi đó thư pháp chữ Quốc ngữ lại chưa đủ “pháp” để vừa đảm bảo giá trị văn bản, vừa có yếu tố mỹ thuật. Càng kệch cỡm hơn khi chữ Quốc ngữ cũng được sơn son, thếp vàng, xung quanh chạm khắc vân mây, rồng hóa, đặt phía trên cửa võng làm theo lối cổ. Nó phá vỡ tính thống nhất trong phong cách kiến trúc, bài trí nội thất của đền chùa, di tích. Có lẽ chính bởi vậy mà đã có một thời khi sử dụng chữ Quốc ngữ viết câu đối, người ta phải "gò" các con chữ cái La tinh vào khuôn khổ ô vuông hoặc hình tròn rồi tìm cách viết cho nó na ná giống như chữ Hán để dễ coi hơn. Vậy là "Mèo lại hoàn mèo". Thậm chí mèo chẳng ra mèo, chuột chẳng ra chuột. Dân gian có câu: “Trò nào trống nấy”. Nếu chỉ xét riêng về yếu tố mỹ thuật và nguyên tắc phục cổ trong kiến trúc đền chùa thì cách làm "tân cổ giao duyên" mà ông Xuân Dương ca ngợi mới đáng gọi là lai căng khó chấp nhận.

Ông Xuân Dương cho rằng hoành phi, câu đối phải viết bằng chữ Quốc ngữ bởi "Bao nhiêu trong số chín mươi triệu người Việt ngày nay có thể đọc và hiểu những chữ đó?" (tức chữ Hán-HTC). Tuy nhiên, lại phải hiểu rằng, chữ trên hoành phi câu đối trong đền chùa không thuộc loại bắt buộc phải phổ cập. Nội dung của nó trước tiên là để thờ thần, phật, tiên, thánh, tiền nhân... Nếu cần, chỉ một phiến đá kích thước chừng 50x70 đã có thể làm sơ đồ, phiên âm, dịch, giải nghĩa rõ ràng nội dung các bức hoành phi câu đối Hán Nôm trong một ngôi chùa hay đền miếu.

Với chữ Hán, nhìn vào mặt chữ có thể biết được nghĩa. Tuy nhiên, nhiều chữ đồng âm, dị nghĩa phiên âm Hán Việt, viết bằng chữ Quốc ngữ rất khó phân biệt. Ca ngợi vua tôi bằng chữ Hán mà viết bằng chữ Quốc ngữ: “Quân tắc cổ, thần tắc cổ...; Thượng ung tai, hạ ung tai...” thì khác gì những lời chửi rủa ? Bức đại tự "Đại hùng bảo điện" viết bằng Quốc ngữ ông Xuân Dương ca ngợi mọi người đều đọc được, thực chất chỉ là phiên âm Hán Việt. Bởi vậy đọc được rồi, liệu có bao nhiêu người hiểu"Đại hùng bảo điện" nó là cái chi? Để hiểu được, liệu có thể diễn giải nội dung chừng nửa trang giấy rồi khắc chữ lên đó làm “hoành phi” không? “Bảo điện” thờ Phật thì trước hết phải viết bằng chữ Hán-thứ chữ và nghĩa nhà Phật dùng để suy tôn đức hiệu của Phật (Đại Hùng) chứ? Rồi"Thần công mạc trắc", hay "Vân lai tập hội" nghĩa là gì? Ngay như 4 chữ"Cao sơn cảnh hành" trên đền Hùng nếu phiên âm Hán Việt và viết bằng chữ Quốc ngữ, già trẻ, lớn bé đều có thể đọc được. Nhưng trong khi các nhà Hán học còn ngồi “bàn nát” xem đọc là “cảnh hành” hay “cảnh hạnh”và nó có nghĩa là gì thì liệu mấy người đọc Quốc ngữ hiểu được? Hay cuối cùng vẫn là những người biết đọc chữ Hán mới hiểu ? Hơn nữa, không đọc được chữ Hán là do không được dạy, không được học, không thèm học chứ đâu phải tại thứ chữ đã gắn bó với dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm ? 

Làm đình, làm chùa tức là kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống. Việc vứt bỏ chữ Hán đã có hàng ngàn năm lịch sử để thay vào một thứ chữ tuy được gọi là Quốc ngữ nhưng cũng là ngoại lai, với mẫu tự La tinh và cách ghép vần đa số theo tiếng Tây gốc Gaulois; cũng theo chân một kẻ xâm lược đô hộ khác, nhưng mới chỉ thành chữ Quốc ngữ trước 1945. Chữ này vốn không ai dùng để viết hoành phi, câu đối. Vậy cái nào lai căng, kệch cỡm hơn cái nào? Nếu ông Xuân Dương hoặc ai đó thấy cái hay, cái đẹp của chữ Quốc ngữ trên hoành phi câu đối trong đền chùa xin cứ dùng, không ai cấm. Không nên chỉ trích, thúc giục Bộ văn hóa, chính quyền TP Hải Phòng dùng cái mới để triệt tiêu cái cũ, coi sự hiện diện của chữ Hán trên “hoành phi, câu đối, bia đá… trong di tích”là “lai căng”, là “trái với đạo lý dân tộc” (!)

3.Hoành phi, câu đối viết bằng chữ Quốc ngữ có thoát được chữ Hán “lai căng” không ?

Phương án thay thế “văn hóa ngoại lai” và “mốt lai căng” chữ Hán của ông Xuân Dương là dùng chữ Quốc ngữ. Thế nhưng, tên nước“Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” rồi mấy chữ “Độc lập- Tự do-Hạnh phúc” hay bản thân tên tác giả Xuân Dương, “Đại hùng bảo điện” hay“Vạn đức từ tôn” viết bằng chữ Quốc ngữ mà Xuân Dương ca ngợi có tính dân tộc kia đều là từ Hán Việt. Từ Hán Việt ấy ở đâu ra ? Là do ta dùng chữ Hán, đọc theo cách phát âm của ta. Từ Hán Việt mang nghĩa chữ Hán, nó chỉ khoác cái áo phát âm Việt mà thôi. Nói một cách nôm na, cái “thằng” chữ Hán “lai căng” mà ông Xuân Dương cho rằng "trái với đạo lý dân tộc" và cần bài trừ kia chính là bố đẻ ra “thằng con” từ Hán Việt. Vậy, nếu đã kính “ông con”, sử dụng “ông con”, ta có khinh thường, hay “triệt hạ” được “ông bố” không ? Được! Bằng cách nào? Chỉ cho phép “thằng con” Hán Việt ở lại định cư, còn đuổi “ông bố” chữ Hán về nước. Hay! Vậy bức hoành phi có mấy chữ “Đại hùng bảo điện”, hay “Vạn đức từ tôn”, tên ông Xuân Dương rồi mấy địa danh Hoàng Sa, Trường Sa, Song Tử Tây, Bạch Long Vĩ...kia nghĩa là gì nhỉ? Không biết ! Vậy muốn biết phải hỏi ai bây giờ? Hỏi "mẹ” từ Việt. Nhưng "mẹ Việt" chỉ ghi âm từ Hán chứ không ghi nghĩa. Làm sao bây giờ? Chỉ còn mỗi một cách là hỏi "bố đẻ" ra nó, hỏi chính cái "thằng" chữ Hán “lai căng” kia ! Nghĩa là ta phải tra “Hán Việt từ điển”. Nếu tra Từ điển, tự điển của Đào Duy Anh, của Thiều Chửu (vốn cũng phải tham khảo từ điển Tàu)...mà vẫn chưa thông, ta còn phải tìm sang tận bên Tàu trực tiếp hỏi “lão” “Khang Hy từ điển”, hỏi “Từ nguyên" hay "Hán ngữ đại từ điển"...của “Tàu khựa” nữa kia. Nếu ai đó nói rằng, mấy chữ "Đại hùng bảo điện" hay "Hoàng sa, Trường sa"...ấy có gì mà không hiểu nghĩa. Vâng, nhưng nhờ đâu mà hiểu? Cũng là do những người được học chữ Hán dạy cho ta, hoặc tra cứu từ điển chữ Hán mới hiểu được mà thôi. Còn nếu nói “cùng” rằng, tôi không thèm biết nghĩa Hán của nó là cái gì, chỉ biết nó là địa danh, nhân danh mà thôi. Cũng được. Đó là quyền của mỗi người. Tuy nhiên, không nên hô hào, tuyên truyền cho người khác hoặc con cháu cũng phải có cái đức giống mình. 

Cha ông ta từng sáng tạo ra chữ Nôm. Thế nhưng chữ Nôm lại cũng được hình thành trên cơ sở các bộ chữ Hán và phép cấu tạo chữ Hán. Mặt khác, rất nhiều chữ mang tiếng là chữ Nôm nhưng thực chất là Hán 100%. Ví dụ: thần, phật, đạo đức, học, hành, bút, mực (mặc) phúc, đức, nhân, tâm,v.v...Vua Quang Trung là người chủ trương triệt để sử dụng chữ Nôm, kể cả trong các văn bản hành chính Nhà nước.Thế nhưng, cái tên Nguyễn Huệ và niên hiệu Quang Trung, rồi thành Phượng Hoàng Trung đô xây dựng ở Nghệ An vẫn phải viết bằng chữ Hán 100% đó thôi.

Cuối cùng, như trên đã nói, hoành phi, câu đối vốn không phải của người Việt mà là cách “chơi” xuất phát từ Tàu. Vậy, ai đó có dám bỏ, và có thể bỏ hết, không dùng hoành phi câu đối nữa không? Có cho rằng những “Ẩm thủy tư nguyên”, “Mộc bản thủy nguyên” “Đức lưu quang”phía trên bàn thờ tổ tiên nhà mình là “lai căng”, là “trái với đạo lý dân tộc”không? Có dám đổi cái tên ý nghĩa, đẹp đẽ của mình hoặc đặt tên cho con cháu mình là cột, kèo, thúng, mủng, dần, sàng được không ? Hay là nói như các cụ, “Kiêng cái nhưng ăn nước?” 

4.Yếu tố ngoại lai có làm mất bản sắc và suy yếu dân tộc hay không?

TẠO TÌNH HUỐNG THÚC ĐẨY NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI LÀ VI PHẠM PHÁP LUẬT

Bộ Công an kiến nghị xử lý phóng viên vì “gài bẫy cảnh sát giao thông"

Phòng PV11 Công an TP HCM vừa đăng tải thông tin trên cổng TTĐT CATP HCM về việc “Bộ Công an kiến nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xử lý Phóng viên Báo Thanh niên cài bẫy, tạo tình huống đưa hối lộ cho Cảnh sát giao thông để ghi âm, ghi hình”

Nội dung của bản thông báo viết rằng:

Cuối năm 2012, để có tư liệu viết đề tài "nạn bảo kê đường của Cảnh sát Cơ động - Trật tự (CSTT-CĐ) tại TP. Hồ Chí Minh", phóng viên Nguyễn Hoài Nam - Báo Thanh niên đã lên kế hoạch cài bẫy, tạo tình huống đưa hối lộ cho cán bộ, chiến sỹ CSCĐ-TT, Cảnh sát giao thông (CSGT) thuộc Công an Quận 6, Quận Bình Tân để thu thập tài liệu.

Phóng viên Nam đã liên hệ với một tài xế quen biết (Trần Ngọc Phúc) lên kế hoạch cài bẫy cán bộ, chiến sỹ CSCĐ-TT, CSGT Quận 6, Quận Bình Tân, Huyện Hóc Môn trong xử lý vi phạm do chính phóng viên Nam và tài xế Phúc cố tình vi phạm, tạo tình huống để tiếp cận ghi âm, ghi hình việc đưa và nhận hối lộ. Mỗi lần thực hiện việc hối lộ, Phóng viên Nam và tài xế Phúc đều chuẩn bị phương tiện để ghi âm, ghi hình việc thỏa thuận và đưa hối lộ CSCĐ-TT, CSGT tại trụ sở Công an hay việc xử lý trên mặt đường. Phóng viên Nam còn hướng dẫn Phúc về số tiền đưa hối lộ để không bị xử lý hình sự.

Sau khi thực hiện đề tài, phóng viên Nam đến Thanh tra Bộ Công an tố cáo về tiêu cực, sai phạm của một số cán bộ, chiến sỹ CSTT-CĐ, CSGT thuộc Công an Quận 6, Quận Bình Tân trong loạt phóng sự trên. Ngay khi nhận tin tố cáo, lãnh đạo Bộ Công an đã chỉ đạo các đơn vị có liên quan tiến hành điều tra làm rõ hành vi nhận hối lộ của cán bộ, chiến sỹ CSCĐ-TT, CSGT của các đơn vị trên.

Qua điều tra vụ việc, Bộ Công an đã ra quyết định kỷ luật "Tước danh hiệu Công an nhân dân" đối với cán bộ, chiến sỹ CSCĐ-TT, CSGT Công an Quận 6, Quận Bình Tân có hành vi vi phạm trong loạt bài phóng sự của phóng viên Nam.

Tuy nhiên, Bộ Công an cũng đã làm rõ hành vi của phóng viên Nguyễn Hoài Nam là vi phạm pháp luật. Hoạt động của phóng viên Nam không phải là hoạt động tác nghiệp, không phải để thu thập tài liệu chứng cứ về một vụ nhận hối lộ đã xảy ra trước đó mà là cố ý, chủ động tạo tình huống để cài bẫy, đưa hối lộ nhằm ghi âm, ghi hình làm tư liệu đề tài viết bài.

Việc tạo tình huống thúc đẩy người khác phạm tội là hành vi vi phạm pháp luật. Qua đó, Bộ Công an đã kiến nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xử lý vi phạm đối với Phóng viên Nguyễn Hoài Nam về hành vi vi phạm pháp luật trên.

Nhóm phóng viên PetroTimes

THA THỨ CHO MÙA THU BÉ DẠI

Tha thứ cho mùa thu bé dại

Luôn có những điều be bé và giản dị lắng lại trong mỗi con người, nó ở đâu đó gần gụi và nuôi dưỡng sự vị tha.

Như cô bạn tôi thương những ngọn đèn đường, cô có những nụ hồng khô, cô cho tôi một nụ và cười “cho ‘you’ một ngọn đèn tắt”. Tôi luôn nghĩ về cô ấy như một phiến lá, ngay từ lần đầu gặp. Nhưng cô lại có giọng hát từa tựa mây trời, bởi nó cao và đầy nỗi buồn. Ở đâu đó trong cô, ngay cả khi cô quên đi, tôi nghĩ, vẫn còn một ngọn đèn, hay những ngọn đèn, bên cạnh những ngọn đồi, những cây cam và bông hoa... của riêng cô ấy. Ngọn đèn hay là lòng trắc ẩn của cô, nho nhỏ thôi nhưng nó quẩn quanh ở đấy. Đủ để nhu mì và tha thứ, để buồn và vui những khi trời trong xanh hay đầy mây xám..

Như anh, anh hoài xót xa một câu hát “tha thứ cho mùa thu bé dại”. Tôi lại nghĩ về anh như về một cái cửa sổ gỗ cũ. Nó luôn hé chờ mùa thu, dù mùa thu có ở đâu, vẫn luôn đón chờ bằng tha thứ. Mùa thu hay là con người, đôi khi cũng vậy thôi. Anh hay kể những câu chuyện nho nhỏ, đầu cuối đều để mở, mỗi người có thể hiểu theo mỗi cách khác nhau, và có khi anh ấy lại nghĩ theo một cách khác nữa cũng nên... :) Anh bảo, bất kể là lúc nào anh cũng đều có thể nghe bài hát ấy. Tôi biết, anh nói rất thật, cái cửa sổ be bé ấy luôn hé mở và bao dung, đủ để anh có thể kể những câu chuyện của mình, trong lúc chờ năm tháng. Hai mươi lăm có lẻ, có những điều đã hao vơi, có lẽ...

Tôi đang nói về bạn, về anh chứ kỳ thực đang muốn nói về mình lắm. Trong một lần của ngày xưa, tôi nghe “khi bên nhau sợ câu giã từ, sợ một ngày ta sẽ mất nhau” mà lòng chao đảo. Lòng tôi đã nghiêng đi lúc ấy, vừa bên ngoài chiều, đang mưa. Đó mãi là câu hát khiến tôi thương mến và yếu lòng nhất, từ lúc nghe được cho tới tận bây giờ. Câu hát đi ngang tôi, kéo theo cả một trời mây trắng phía sau lưng, tôi làm sao đủ sức để mà không tha thiết? Câu hát, vẫn còn đó, như ngày xưa, như ngày mưa ban chiều đã cũ, nằm yên trong tôi dịu dàng và thăm thẳm. Nó giản dị quá, và cả thật thà nữa. Đủ để khiến tôi giữ lòng yên ả trong những buổi không gian nhuộm gió.

Thật lòng chỉ muốn hát cho nhau nghe... Bởi ngoài kia cuộc sống đã không còn chút thật thà...

Nguồn: Flyingdace

ĐÀN ÔNG NHƯ THẾ MỚI LÀ ĐÀN ÔNG!

Đàn ông như thế mới là đàn ông!

Bình sinh, cho đến bây giờ đã sang bên kia dốc cuộc đời, tôi vẫn thường tự cho mình là kẻ không đến nỗi phải xấu hổ với danh phận của một thằng đàn ông.

Ấy thế mà bỗng có một ngày đẹp trời, trên một phiên chợ vùng cao, tôi bị choáng váng vì tự thấy xấu hổ với mình khi ngồi nghe trộm câu chuyện của hai người đàn ông xa lạ.

Bên một chiếc bàn gỗ mốc thếch, tôi ngồi uống rượu với một người bạn. Anh này thạo nhiều thứ tiếng dân tộc vì đã một thời chuyên đi thu mua nấm rừng, thảo quả trong các bản làng xuất sang Trung Quốc. Bàn bên cạnh có hai người đàn ông mặc quần áo chàm vừa nốc từng bát rượu đầy vừa chằm chằm nhìn vào mặt nhau. Ngồi né ra xa một chút là một người phụ nữ váy áo thêu xanh đỏ, khắp người đeo không biết bao nhiêu vòng bạc lủng lẳng.

Suốt đến gần nửa tiếng đồng hồ chỉ thấy có một anh chàng nói, khi thì giận dữ khi thì nghẹn ngào, có lúc lại đắm chìm trong ưu tư như bị men rượu nhấn chìm. Can rượu to trên bàn đã vơi quá nửa, bỗng hai người đàn ông ôm chầm lấy nhau, nức lên rưng rức. Cái bàn ọp ẹp chao nghiêng làm hai bát rượu đổ tóe ra sàn.

Lẳng lặng nhìn hai gã đàn ông quá say, người đàn bà cúi xuống nhặt những chiếc bát đặt lên bàn rồi lẳng lặng mở nút cái can nhựa cao đến hai gang tay, nghiêng can rót rượu đầy tràn hai miệng bát. Xong xuôi lại trở về chỗ, lẳng lặng nhìn bâng quơ ra rặng núi giăng ngang trước mặt.

Thấy cảnh lạ lùng, tôi thì thầm hỏi anh bạn xem chuyện gì đang xảy ra. Thì ra hai gã đàn ông này chính là “tình địch” của nhau, theo cái cách định nghĩa ngu ngốc của người dưới xuôi chúng ta. Một anh là chồng, còn một anh là người yêu cũ của người đàn bà đang ngồi đây. Nhìn kỹ ra thì cô vẫn còn khá trẻ nhưng vẻ tiều tụy và cam chịu làm cho ta nghĩ rằng đấy đã là một thiếu phụ nhan sắc đang tàn.

Chiều tối ngày hôm qua họ đã xuống đến chợ. Như nhiều đôi khác, hai vợ chồng này buộc ngựa vào một góc bên quán, ăn một bữa no nê rồi chia tay nhau. Sáng hôm nay họ lại tìm về quán cũ theo lệ thường để rồi sẽ lại ăn một bữa trước khi túc tắc dắt ngựa đi về. Thế nhưng lần này, cô vợ không về quán một mình mà dẫn theo anh người yêu cũ. Thế là ba người ngồi cùng nhau. Hai người đàn ông và một người đàn bà.

Anh bạn tôi ngồi xây mặt ra cửa nhưng căng tai về phía bàn bên để nghe và cố hạ giọng dịch cho tôi nghe từng câu nhát gừng đứt quãng của người đàn ông đang vừa nói vừa uống một cách đầy bức xúc. Anh bạn tôi còn phải tóm tắt cả câu chuyện đã xảy ra trước khi tôi hỏi, thế nhưng vẫn theo kịp được khúc sau vì anh kia cứ nói một câu lại uống một hớp, rồi lại gật gật cái đầu như đang cố vắt ra các ý nghĩ lộn xộn nằm đâu đó bên trong óc mình.

Tôi vừa nín thở để nghe và cố sắp xếp các lời dịch của anh bạn. Cuối cùng thì tôi hiểu được đại khái câu chuyện giữa hai người đàn ông, một người chỉ nói, vừa nói vừa nghẹn ngào, một người cúi gằm mặt xuống vừa nghe vừa cắn chặt hàm răng. Bỏ qua những câu vòng vo mà tôi không nhớ mà cũng không hiểu hết ý thì tóm tắt lại là như sau:

- Thằng Xín Thau kia, mày uống hết cái bát ấy đi rồi nghe tao nói. Suốt đêm qua tao đau tức cái tim, đau quặn cái ruột. Tao đi theo vợ mày về đây tìm mày.

-…

- Cái ngày bố mày theo ông thầy cúng đưa mày đến đón vợ mày về, tao buồn muốn chết. Tao đã bắn hết cả một túi thuốc, nhồi hết đạn chì thì nhồi sỏi sạn vào mà bắn. Đáy nòng vỡ ra, sẹo trên má tao vẫn còn đây này.

-…

- Sau khi cưới, vợ mày nó bảo rằng tao đừng buồn, mày thương vợ lắm. Tao tin nó quá, thế là tao vui.

- ….

- Phiên chợ trước tao được tin nhắn là phiên này vợ chồng nhà mày sẽ đi. Tao đắp vội mấy khúc bờ ruộng cho xong, tao bỏ cái đám cưới trong bản để ra đây gặp vợ mày. 

- …

- Mày phải biết, khi đi ra chợ tao vui quá, bỏ không bắn hai con chim to trên cành, bỏ không bắn một con nhím to trong bụi. Tao chỉ nghĩ đến cái lúc được gặp vợ mày. Thật đấy. Tao vẫn còn thương con vợ mày lắm mà.

- …

- Đến lúc tao tìm được con vợ mày, tao vui đến chảy cả nước mắt. Tao lại hát lại cái bài mà ngày xưa lần đầu tao hát vào bên tai con vợ mày, cái đêm đầu tiên tao gặp được nó.

- …

- Thế mà, dắt nhau đi rồi, đèn tao chiếu vào tận mặt mà tao không còn nhận ra nó là cô con gái đẹp nhất bản. Giàng ơi. Ngày xưa cái mặt ấy tròn như trăng rằm, hai cái vú nó tròn to như hai quả dưa chín, cái tay nó đẹp như mình con trăn trên cây, tiếng nó cười hay như chim hót làm nắng cũng cười theo, cái váy nó thơm như hoa rừng làm bướm cũng bay theo.

- …

- Giàng ơi. Đêm qua tao chỉ thấy mặt nó cong méo như trăng hạ tuần, ngực nó nhăn như hai quả bí héo. Nó không cười, nó chỉ muốn khóc. Tao đau cái tim tao quá. Giàng ơi.

- …

- Mày nói đi. Là thằng đàn ông, mắt mày có nhìn thấy vợ mày nó khổ hay không? Là thằng đàn ông, mày có thấy vợ mày nó buồn hay không?

- …

- Mày là thằng tốt số nhất đời. Mày sinh vào lúc nào mà mày lấy được vợ mày? Mày thật là có cái tội to. Hôm nay tao định đánh mày, tao thương con vợ mày quá.

- …

- Lần này tao mang hai bao ngô giống. Tao không bán nữa. Mày mang về đi mà trồng. Phiên chợ sau tao gửi phân bón vào cho.

- …

- Đến kỳ ngô ra bắp tao bảo mày cách đặt bẫy. Tao có bài thuốc, bẫy sập là lợn rừng ngấm thuốc không chạy được đâu. Tao sẽ cho mày. Nếu nhím sập bẫy, mày bắt nguyên cả con mang ra chợ. Có người mua ngay. Ba cái dạ dày nhím sống là đổi được một con lợn giống to.

- …

- Mày không được lười. Mày đói thì tao kệ xác cha con mày, nhưng vợ mày thiếu thóc thiếu ngô là tao đánh mày đấy.

- …

- Thằng Xín Thau kia, mày có phải là thằng đàn ông hay không?

Nhìn hai gã đàn ông gục đầu vào nhau rưng rức khóc trên hai bát rượu đã cạn khô, tôi thấy thật là khó tả. Nhìn sang người đàn bà lẳng lặng ngồi bên, tôi không đọc được những ý nghĩ gì đang ẩn hiện trong đầu cô ta. Phải chăng là vừa hạnh phúc vừa tủi thân, phải chăng là vừa ái ngại vừa thương xót cho cả hai gã đàn ông của cô. Rất lâu về sau, một lần tôi đem câu chuyện này kể cho vợ tôi nghe. Vợ tôi thở dài, cầm cái điều khiển tắt phụt màn hình vô tuyến đang lải nhải vô duyên về hạnh phúc gia đình rồi bâng quơ nói: “Đàn ông như thế mới là đàn ông”.

Copy trực tiếp từ Blog PhuocBeo

Thứ Tư, ngày 17 tháng 9 năm 2014

TƯỚNG NGUYỄN ĐỨC CHUNG BỊ NÓI XẤU VÀ SỰ THẬT

LâmTrực@

Nói xấu Tướng Chung

Vụ Tướng Chung, Giám đốc công an Hà Nội một mình dũng cảm vào gặp tên cướp và thuyết phục hắn ra hàng, giải cứu thành công 3 con tin đang là đề tài nóng, được dư luận quan tâm.

Nói gì thì nói, đó là vị tướng trẻ, tài năng và dũng cảm.

Vậy mà sau vụ giải cứu con tin, đám cặn bã xã hội cùng đám lưu manh zân chủ đã tung tin bịa đặt kèm theo một clip để nói xấu tướng Chung. Luận điệu: vụ bắt cóc và giải cứu con tin ở Thanh Xuân chỉ là sự dàn dựng của Tướng Chung.

Đúng là đám cặn bã.

Hình dưới là của trang Dân News:

Còn đây là bài của một kẻ có tên: Lê Minh Huy trên FB. Bạn có thể xem tại đây.


Nhưng sự thật là thế nào? 

Phát hiện súng đạn tại phòng trọ kẻ khống chế 3 con tin

(VTC News) – Khám xét nơi ở trọ của Bình tại quận Long Biên, Cơ quan công an phát hiện 1 súng bắn đạn bi, hơn 100 viên đạn, 1 bình xịt hơi cay và 1 côn 3 khúc. 

Như đã đưa tin, sáng 16/9, đối tượng Trần Thanh Bình (SN 1986, quê Quảng Ninh) đã khống chế 3 con tin tại phòng 401, toà nhà E6, Khu tập thể Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân - Hà Nội. Sau hơn 4 giờ đấu tranh, lực lượng công an TP Hà Nội đã bắt giữ đối tượng, giải cứu an toàn các con tin. 

Liên quan đến vụ việc này, chiều 17/9, đại tá Dương Văn Giáp – Trưởng phòng Cảnh sát Hình sự Công an TP Hà Nội cho biết, Cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Trần Thanh Bình và thực hiện khám xét nơi ở của đối tượng này.

Trần Thanh Bình tại Cơ quan điều tra.

Theo Đại tá Giáp, ngoài con dao hung khí gây án, qua khám xét nơi ở trọ của Trần Thành Bình tại quận Long Biên (Hà Nội), cảnh sát đã thu giữ 1 súng bắn đạn bi, hơn 100 viên đạn, 1 bình xịt hơi cay và 1 côn 3 khúc. 

Qua đấu tranh khai thác, bước đầu Trần Thanh Bình khai nhận bỏ nhà đi từ 10 ngày trước. Số vũ khí trên là do Bình mua từ Lào Cai với mục đích mang về Hà Nội tìm các gia đình sơ hở để cướp tài sản lấy tiền trả nợ và ăn tiêu. 

Theo cơ quan điều tra, khi bị khống chế tại phòng 401, các con tin đã kêu cứu. Trước tình hình đó, đối tượng biết không thể thực hiện hành vi cướp tài sản nữa nên đã yêu cầu cho gặp người nhà nhằm che dấu mục đích thực sự của anh ta. 

Hiện Cơ quan điều tra đang hoàn tất các thủ tục để ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Thanh Bình.

Minh Quyết

HÔ HÔ: VỢ GIẢ

Khoai@ chép từ Kim Dung
—————-
Đàn ông có nhiều kiểu khổ vì vợ. Có người khổ vì vợ dữ, có người khổ vì vợ ghen, có người khổ vì vợ xấu. Vợ đẹp quá cũng khổ (vì suốt ngày lo ghen). Nhưng không biết có ông nào khổ cái kiểu kỳ cục giống tôi không: Khổ vì “vợ giả”!

Nghe đến đây, chắc nhiều ông nghĩ: “Chắc bà vợ cha này sống giả tạo lắm?”. Không hề, tính vợ tôi rất thật thà, dễ thương. Tôi nói “vợ giả” nghĩa là trên người vợ tôi, đồ… giả nhiều hơn đồ thật!

Ngôi sao nữ nổi tiếng một thời Jackie Stallone 92 tuổi là một minh chứng tiếp theo cho hậu quả của việc nghiện phẫu thuật thẩm mỹ. Nguồn: http://nhanh.net.vn/tin-tuc/su-tan-pha-khung-khiep-cua-phau-thuat-tham-my-khi-sao-ve-gia

Cách đây 10 năm, lúc mới lấy nhau, vợ tôi là một phụ nữ bình thường, không đẹp cũng không xấu. Một ngày đẹp trời, chẳng hiểu nghe lời ai xúi dại, cô ấy đi sửa mũi với cái lý do hết sức dễ thương: “Em đẹp thì anh hưởng chứ ai hưởng”. Tôi không chịu thì cô ấy nhăn nhó, giận hờn đủ kiểu. Cuối cùng, tôi cũng phải xuôi.

Ai ngờ, sửa một lần rồi cô ấy đâm ra nghiện luôn. Từ đó, vợ tôi trở thành khách quen của nhiều thẩm mỹ viện trong thành phố. Có cái mũi mà cô ấy sửa đi sửa lại mấy lần. Hết mũi thì tới bơm môi, căng da mặt, độn cằm, hút mỡ bụng… Mà mỗi lần cô ấy sửa đâu có rẻ, bèo bèo cũng mất mười mấy triệu, còn mắc thì phải vài ngàn đô. Nếu giờ mà đếm đồ trên người cô ấy để tính tiền, chắc đủ để hai vợ chồng tôi xây căn nhà mới.

Tốn tiền thật ra cũng không quan trọng lắm, nỗi đau khổ của tôi là càng ngày càng nhìn không ra vợ mình. Cứ chiều chiều đi làm về, tôi nhìn ngơ ngẩn người phụ nữ đang tồn tại trong nhà, đang nấu cơm cho mình ăn mà chẳng biết đấy là ai. Nhiều lúc nửa khuya thức giấc, mở mắt thấy cô ấy ngủ quay mặt vào tôi, tôi giật mình, tưởng mình… ngủ lộn nhà.

Nỗi khổ lớn nhất của tôi là vợ tôi giờ đây như dán lên người một cái nhãn tổ bố: “Hàng dễ vỡ, xin nhẹ tay!”. Vui vui nhéo mũi cô ấy, cô ấy la: “Trời, sụp bây giờ”. Hôn môi, cô ấy đẩy ra: “Đừng anh, em mới bơm”. Tôi nhớ hồi xưa có đọc đâu đó câu chuyện thần thoại, đại khái có ông vua bị thần thánh phạt, đụng tay vô cái gì cũng thành vàng, kể cả đồ ăn thức uống. Tôi giờ cũng vậy, nhìn được mà “ăn”… hổng được.

Còn nữa, tôi nghe nói mấy cái vụ sửa sang như thế dễ xuống cấp lắm. Tôi coi trên mạng, thấy mấy tấm hình chụp các bà dạng “hồi trẻ sửa phà phà, về già bị xuống cấp”, tôi giật mình thon thót. Nghĩ tới cảnh tương lai vợ mình như vậy, tôi lo quá. Không biết có ông chồng nào cùng cảnh khổ giống tôi không?

CỐ ĐẠO ĐINH HỮU THOẠI VỚI NHỮNG PHÁT NGÔN BỪA BÃI (P1)

Ong Bắp Cày

Linh mục Đinh Hữu Thoại là loại người gì khi cố tỏ ra là kẻ bất lương đến nỗi luôn bịa đặt vu cáo chính quyền, cổ súy chi những hành vi chống phá nhà nước? Thậm chí còn tỏ ra cay cú với chiến thắng của U19 Việt Nam?

Tất cả những gì tởm lợm tanh nồng đều có thể được thấy trên FB của người này. Xem ở đây.

Linh mục Đinh Hữu Thoại (trái, thứ hai) cùng các linh mục dòng chúa cứu thế đang làm Thánh lễ cầu nguyện từ mả Ngô Đình Diệm.

Trên FB của Đinh Hữu Thoại, một cố đạo cực đoan đang thủ dâm tinh thần bằng một stt kể về buổi gặp gỡ, đối thoại với 2 anh công an tôn giáo. Ngoài những câu nói xỏ xiên, Thoại viết một đoạn thế này: "Mình nói: Tôi hỏi các chú nhé, Trước năm 1945 ông Hồ Chí Mình có đăng ký cho đảng CS sinh họat tại Việt Nam không? Sau năm 1945 tới giờ có văn bản nào của người dân việt nam công nhận tư cách pháp nhân cho đảng CS không? Cho tới giờ phút này thì Đảng Cộng sản vẫn đang hoạt động bất hợp pháp tại Việt nam này đấy. Bởi vì họ không đăng ký sinh hoạt. Các chú nói rằng đấy là do yếu tố lịch sử... Mình cười nói: Thì bây giờ lịch sử vẫn không hề dừng lại. Chúng tôi hoạt động tôn giáo cũng chẳng cần phải đăng ký với ai cả, đây là quyền bất khả xâm phạm của con người mà". 

Thoại mượn "giấy phép" để so sánh và lấp liếm cho mấy thứ rác rưởi của xã hội hoạt động không phép. Liệu đó có phải là ý chúa chăng?

Có phải Thoại mặc áo chùng đen lâu quá nên hóa lẫn hay không mà quên béng phân biệt đối tượng trước khi liên kết so sánh. Một bên là Đảng cộng sản Việt Nam với xâm lược Anh Pháp, tức kẻ cướp ngoại ngoại bang. Một bên là một lũ một lĩ những kẻ dị hợm với cơ quan quản lý nhà nước của một quốc gia có chủ quyền. 

Người dân đoàn kết lại trên cơ sở thống nhất với nhau về chính trị tư tưởng và lợi ích để đánh đuổi ngoại xâm thì nót cần phải xin phép ai cả (nhớ là đánh đuổi ngoại xâm nhá). Xin hỏi thằng quạ đen, đại diện cho những con qua đen cực đoan khác rằng: Đánh đuổi ngoại xâm, thì có cần xin phép kẻ thù của mình không, hả?

Ngược lại, mọi công dân, kể cả những công dân có hai bố, bố Việt Nam và bố Vatican muốn làm gì thì đều phải xin phép, và khi đã được cấp phép thì phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, hiểu chưa?

Thật đắng lòng, khi Đinh Hữu Thoại là một công dân Việt Nam lại còn tỏ ra ngu muội đến mức viết: "Cho tới giờ phút này thì Đảng Cộng sản vẫn đang hoạt động bất hợp pháp tại Việt nam này đấy. Bởi vì họ không đăng ký sinh hoạt". 

Ai bảo với Thoại là Đảng cộng sản Việt Nam đang hoạt động bất hợp pháp vì không xin phép?

Hỏi tiếp, Chúa Jesus của Thoại khi lập ra cái gọi là Thiên chúa có xin phép ai không?

Thực tế là, dù muốn hay không thì cũng phải nhìn nhận một thực tế, đảng cộng sản Việt Nam chính là người có công đầu trong đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa, giành độc lập tự do cho dân tộc này. Chính đảng cộng sản chứ không phải là một đảng nào khác đã chịu trách nhiệm bảo vệ dân tộc này, đất nước này mỗi khi đất nước bị lâm nguy. Chính đảng cộng sản là người đã dẫn dắt dân tộc này đi từ đống tro tàn đổ nát của chiến tranh, từ một nước cực kỳ lạc hậu, "không thấy tên trên bản đồ thế giới", với sự bao vây cấm vận triền miên, để rồi vươn lên thành một Việt Nam hôm nay. Khi trở thành đảng cầm quyền, họ được toàn dân thừa nhận và ủng hộ.

Ngược hẳn với đảng cộng sản Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Thiên chúa của các người đã làm gì?

Người Pháp đã phải viết thế này: "Không có những sai nha Thiên chúa thì người Pháp không bao giờ chiếm được Đông Dương"!

Một phát biểu tại Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân vào ngày 13/10/1923 có đoạn: 

Bây giờ, tôi xin nói vắn tắt với các đồng chí về chuyện Nhà thờ. 
Tôi đã nói với các đồng chí rằng những tên thực dân đã tước đoạt người An Nam như thế nào. Bây giờ, tôi xin nói để các đồng chí biết Nhà thờ Kitô đã tước đoạt nông dân như thế nào. 
Trong cuộc xâm chiếm Đông Dương thì chính những nhà truyền đạo Thiên chúa đã đi do thám để báo cho đội quân chiếm đóng biết những kế hoạch phòng thủ của nước chúng tôi. Cũng chính những nhà truyền đạo đã dẫn đường những đội quân tấn công, cũng chính lại là những nhà truyền đạo đã lợi dụng tình trạng lộn xộn của đất nước để ăn cắp những văn bản chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất của người nông dân này nọ hay của một làng nào đó. Khi hoà bình được lập lại, nông dân trở về thì tất cả ruộng đất đều đã bị các nhà truyền đạo nắm được các văn bản nói trên, chiếm mất. Chính bằng cách đó, mà ở Nam Kỳ những nhà truyền đạo Thiên chúa có được trên một phần tư những đất đai cày cấy được. ở Campuchia, các nhà truyền đạo nắm trên một phần ba ruộng đất; ở Bắc Kỳ, chỉ riêng ở thủ phủ, trong thành phố Hà Nội, các nhà truyền đạo có những bất động sản rộng bao la. 
Họ có được của cải và chiếm hữu ruộng đất của nông dân không phải chỉ bằng cách đó. Các đồng chí đều biết rằng trong các nước ven biển, nhất là trong những nước ở Viễn Đông, thường xảy ra giông bão và lụt lội làm cho mùa màng thất bát; các nhà truyền đạo lợi dụng những dịp đó để ứng trước tiền cho nông dân với những tỷ suất lãi rất nặng và một thời hạn rất ngắn. Biết rõ ràng làm như vậy thì nông dân không bao giờ có thể trả nợ được, nên các nhà truyền đạo đòi nông dân phải đem ruộng đất ra bảo đảm. Thế là khi đến thời hạn trả nợ, thì toàn bộ ruộng đất của nông dân đều rơi vào tay các nhà truyền đạo. 
Các đồng chí đã thấy bọn thực dân bóc lột nông dân như thế nào và các giáo sĩ tước đoạt nông dân như thế nào. 

Nhắc đến Thiên chúa, lịch sử đã tường tận, truyền thống rước voi giày mả tổ không chỉ có ở Việt Nam. Ai muốn rõ hơn xin mời vào đọc "Cao Huy Thuần" và "Sách Hiếm". Tất nhiên, không phải ai theo Thiên chúa cũng đều bán mình cho quỷ dữ như thế, và không phải ai có bổn phận chủ chăn trong Thiên chúa cũng là người như Đinh Hữu Thoại.

Riêng câu nói của Cha cố Đinh Hữu Thoại: "Thì bây giờ lịch sử vẫn không hề dừng lại. Chúng tôi hoạt động tôn giáo cũng chẳng cần phải đăng ký với ai cả, đây là quyền bất khả xâm phạm của con người mà", sẽ được mổ sẻ ở entry sau.

Linh mục mà bẩn tưởi như thế thì răn dạy được ai đây?

Thứ Ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

CHƠI MẠNG ĐĂNG ĐÀN MÀ LƠ TƠ MƠ THÌ NHÃI RANH CÓ THỂ XỎ MŨI...

Khoai@

Bài viết của Lão Thợ Cạo, vạch trần sự bịa đặt thô bỉ, và đểu cáng của KAMI (RFA) về Hội Nghị Thành Đô. Với bài viết này, đám rận mu zân chủ bám chặt lấy và ngoác mõm, toang toác đả kích chính quyền. Không hiểu chúng nghĩ gì khi "Mu bị cạo sạch"?


Chơi mạng đăng đàn mà lơ tơ mơ thì nhải ranh có thể xỏ mũi...

Và uy tín của mình cũng mất theo, đơn cử câu chuyện dưới đây.

Ngược thời gian, Kami dựa vào tin audio ma trơi này: 

Hội Nghị Sát Nhập Việt Nam vào China: Tỉnh hay Khu Tự Trị? (Ninh Cơ ghi lại. Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ tuyệt mật) - link dưới đã bốc hơi:


Link này cũng không còn: 



Các trang chống cộng làm 2 video clip đi kèm việc này, nhưng xem lại chỉ là những phỏng vấn bình luận của một số người về chuyện trên. 

Kami sáng tác thành (trích):

"Và cái gì chờ đợi cũng đã đến, khi tổ chức Wikileaks công bố một tài liệu “tuyệt mật” động trời liên quan đến Việt nam. Đó là biên bản họp kín giữa ông Nguyễn Văn Linh Tổng BT Đảng CSVN, ông Đỗ Mười Chủ tịch HĐBT đại diện cho phía Việt nam và ông Giang Trạch Dân Tổng BT và ông Lý Bằng Thủ tướng Chính phủ đại diện cho phía Trung quốc trong hai ngày 3-4/9/1990 tại Thành đô.

Trong tài liệu tuyệt mật liên quan tới Việt nam này của mình, Wikileaks khẳng định thông tin dưới đây nằm trong số 3.100 các bức điện đánh đi từ Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh của cơ quan ngoại giao Hoa kỳ tại Việt nam gửi chính phủ Hoa kỳ, tài liệu này có đoạn ghi rõ “… Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công CNCS, Đảng CSVN và nhà nước Việt nam đề nghị phía Trung quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung quốc để Việt nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc kinh như Trung quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng tây…. Phía Trung quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020)để Đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung quốc”.

Đoạn lập lờ chữ nghĩa:

"Đoạn tin đầu nói trên về Biên bản họp kín tháng 9/1990 tại Thành Đô giữa lãnh đạo cao cấp Việt nam và Trung quốc, cũng chỉ là một tin mang tính chất giả thiết của tác giả mà nó có nhiều khả năng khi bị bạch hóa có thể xảy ra mà thôi, chứ đó không phải tin chính thức của Wikileaks....

... Xin vui lòng chờ tổ chức Wikileaks họ sẽ chính thức công bố trong một thời gian gần đây cho mọi người toàn thế giới rõ."

Nhiều năm qua có rất nhiều vị có máu mặt trích dẫn nội dung trên và đều cho là từ nguồn Wikileaks, rồi bình loạn lên án âm miu, các trang mạng chống cộng tha hồ chém gió cho đó là bằng chứng ĐCSVN bán nươc. Kết quả Google tìm kiếm rất cao, đến giờ tin "tuyệt mật" động trời ấy vẫn chưa nguội trên không gian ảo.

Bị nhiều người commet truy vấn trang nguồn, chỉ sau một tuần 06.12.2010 Kami lên tiếng khoe thành tích bịp được vô số người, hắn cho là mình viết chuyện phiếm chơi, không một lời xin lỗi vì đã cho độc giả ăn "món vịt cồ Bắc Kinh". (ý Kami là ngu ráng chịu) - Xem ở Đây

Điểm chết người là các vị xem trang mạng tán phát mà không chịu khó truy, xem bài ảnh gốc và tin từ link nguồn nào, chuyện thông tin trời ơi đất hỡi không hiếm, không ít vị đã bị sập hố, đối thủ có dịp dè bỉu chế nhạo. Các ông áo dài Bô Xít, Thánh Đào,...cũng bị vài lần.