Bài mới nhất

Thứ Hai, ngày 01 tháng 9 năm 2014

NGOẠI TRƯỞNG MỸ JOHN KERRY CHÚC MỪNG QUỐC KHÁNH VIỆT NAM

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry - Ảnh: Reuters

(TNO) Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã gửi lời chúc mừng Việt Nam nhân dịp Quốc khánh 2.9.

“Thay mặt cho Tổng thống Barack Obama và nhân dân Mỹ, tôi xin chúc mừng nhân dân Việt Nam nhân dịp các bạn kỷ niệm Quốc khánh vào ngày 2.9”, Ngoại trưởng Kerry mở đầu thông cáo đăng trên website của Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam vào ngày 29.8.

“Mối quan hệ của chúng ta đã phát triển theo cách mà nhiều người đã không hề nghĩ đến. Chúng ta đã vượt qua cuộc chiến tranh của quá khứ và cả sự chia rẽ. Trong những năm kể từ khi lệnh cấm vận được dỡ bỏ và hai bên đạt được bình thường hóa quan hệ và thương mại, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hiện đại và một đối tác quan trọng của Hoa Kỳ. Việt Nam là một đất nước đang trên đà phát triển và đang phát triển", ông Kerry cho biết.

"Hành trình của bản thân tôi với Việt Nam thực sự đã quay lại điểm xuất phát khi tôi trở lại thăm Việt Nam lần đầu tiên trên cương vị Ngoại trưởng vào tháng 12 năm ngoái" ông Kerry nói.

Ông Kerry cũng nhắc lại chuyến thăm Việt Nam của ông vào tháng 12.2013 với tư cách là Ngoại trưởng Mỹ và trước đây ông từng tham gia chiến tranh Việt Nam.

“Trong chuyến thăm, tôi đã gặp Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh để thảo luận các công việc ở phía trước trong khi chúng ta làm sâu sắc quan hệ đối tác toàn diện trên mọi lãnh vực từ thương mại, đầu tư cho đến các mối quan hệ giữa người dân hai nước”, Ngoại trưởng Kerry nói.

Ngoại trưởng Kerry cho biết ông tự hào là một thượng nghị sĩ Mỹ dẫn dắt các nỗ lực thành lập chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP.HCM, bày tỏ kỳ vọng tiếp tục làm việc với Chính phủ Việt Nam nhằm thành lập Đại học Fulbright trong tương lai gần.

“Trong vòng 19 năm qua, Việt Nam đã đi một hành trình dài. Khi Việt Nam phát triển, quan hệ đối tác của chúng ta cũng phát triển theo. Chúng tôi thực sự xúc động và hài lòng khi là đối tác của nhân dân Việt Nam trong nỗ lực đó. Tôi trông đợi đến dịp kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước vào năm tới”, theo Ngoại trưởng Kerry.

Với người dân Mỹ, việc ông Kerry bị thương 3 lần trong chiến tranh Việt Nam không gây ấn tượng mạnh bằng cuộc điều trần phản chiến mang tính lịch sử trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện vào ngày 22.4.1971.

Vào thời điểm đó, ông là cựu binh từ Việt Nam đầu tiên điều trần trước Quốc hội Mỹ về kiến nghị chấm dứt cuộc chiến và bài phát biểu đã gây ấn tượng mạnh tới mức Tổng thống Richard Nixon phải thừa nhận là “cực kỳ hiệu quả”, theo tờ The Boston Globe (Mỹ).

Sau đó, ông Kerry nhanh chóng trở thành thủ lĩnh của phong trào phản chiến với những cuộc biểu tình dậy sóng, hành động ném huân chương vào tòa nhà Quốc hội cùng tuyên bố nổi tiếng: “Tôi làm điều này không phải vì bạo lực mà là cho hòa bình và công lý, cũng như nỗ lực cảnh tỉnh đất nước này một lần và mãi mãi”.

Phúc Duy

Chủ Nhật, ngày 31 tháng 8 năm 2014

GS CHUỘT TÚI VÀ BÙI HẰNG

Ong Bắp Cày

Chị lại có mặt để nói về Bùi Hằng và GS Chuột túi sau khi đọc được bài "Tội chống Tàu xâm lăng" được đăng tải trên trang của nhà Chênh, Quê Choa và Dân News. Sau đây chị sẽ gọi thân mật là "chuột".


Đã có thời trong mắt chị, Chuột là một người tài ba về y học, nhưng giờ thì không. Còn Bùi Hằng, nói cho đúng thì ả chỉ là loại lưu manh đầu đường xó chợ chẳng hơn mà cũng không kém.


Trong bài viết: "Tội chống Tàu xâm lăng" của Chuột , bỏ qua những lời mào đầu hoa mỹ khi mô tả bộ mặt của Bùi Hằng và bỏ qua sự so sánh Bùi Hằng, Cù Huy Hà Vũ với Nelson Madela, thì bài viết có mấy điểm chính cần nói cho rõ.


1. "Tội Gây cản trở giao thông"


Bằng hiểu biết của mình về chính trị và luật pháp của mình, Chuột viết rằng: "Tôi không biết có nơi nào trên thế giới có tội danh "gây cản trở giao thông" và có mức án phạt nặng nề như ở VN". He he, đúng là dân y khoa nên kém cỏi luật pháp là nhẽ thường. Chỉ só điều mang danh giáo sư thì hơi phí.


Nói ngay và luôn, trong Bộ Luật Hình sự của Việt Nam không có tội danh nào có tên "Tội Gây cản trở giao thông", mà chỉ có "Tội cản trở giao thông đường bộ" được quy định tại điều 203 của Bộ luật Hình sự. 


Chuột thân mến, đã trích dẫn luật thì phải trích dẫn cho đúng chứ nhỉ? viết như thế là sai và sẽ làm giảm đi vai trò, uy tín và cả danh dự khoa học nữa đấy.


Thứ nữa, tại phiên Tòa ở Đồng Tháp, Bùi Hằng không bị truy tố về tội danh "Gây cản trở giao thông" như Chuột phản ảnh, mà ả bị truy cứu về tội "Gây rối trật tự công cộng" được quy định tại điều 245 Bộ luật Hình sự. Chị còn nhớ, trong một bài viết nào đó, chính Chuột đã dạy dỗ người ta cách viết các trích dẫn cho một bài báo, ấy thế mà, chính Chuột lại mắc lỗi nghiêm trọng này. Hóa ra giữa nói và làm là cả một khoảng cách khá lớn phải không?


Chị buồn cười đến phọt rắm, khi Chuột say sưa với diễn giải và cắt xén một đoạn trong cáo trạng với lập luận ngây ngô đến khó tin: "Theo suy nghĩ bình thường, nếu đúng thế thì phải phạt đám đông làm cản trở giao thông chứ. Chẳng lẽ nếu một tai nạn giao thông làm cản trở giao thông cả 2 giờ đồng hồ thì nạn nhân cũng bị phạt hay sao? Nếu tai nạn có người chết, chẳng lẽ phải phạt người quá cố? Nếu cản trở giao thông mà cảnh sát không giải quyết được thì điều đó phản ảnh nghiệp vụ của cảnh sát, chứ sao lại phạt người khác? Đúng là một tội danh lạ lùng!". Nói như Chuột thì nếu Chuột trót chiều một bé gái 14 tuổi (ở Quảng Ngãi chẳng hạn !?) và bị xử tội hiếp dâm thì chắc chắn Chuột sẽ cãi là "tại vì nó mời chào tôi và tôi làm từ thiện cho nó, và chả có ai đi xử kẻ đi làm từ thiện cả". Như vậy, đúng như Chuột viết, "nhà hảo tâm lại biến thành tội phạm". Lập luận như thế người đọc không phọt rắm mới là lạ.


Lại nữa, Chuột bi bô luật pháp ở xứ Úc thế này: "Ở Úc này theo tôi biết nếu có ai cố tình gây cản trở giao thông thì chỉ bị cảnh sát phạt tiền, chứ không có chuyện bỏ tù người ta. Một đất nước văn minh phải đối xử văn minh với người dân, chứ đụng một chút là bỏ tù thì đó là hình thức đàn áp chứ không phải hành xử văn minh".


Đúng là lưỡi không xương trăm đường lắt léo, chị khá bất ngờ khi Chuột phát biểu tự tin đến thế. Một xã hội văn minh là phải thượng tôn luật pháp chứ không phải vặn vẹo kiểu trẻ con Chuột ạ. Đến trẻ trâu cũng biết, luật của Úc thì chỉ điều chỉnh trong phạm vi nước Úc chứ không thể áp dụng cho nước Mỹ hay Nga. Người đẹp của Chuột với hành vi như trong clip ở phần cuối cùng của bài viết này, đã vi phạm nghiêm trọng luật Hình sự của Việt Nam, và vì thế thị phải ngồi bóc lịch là hoàn toàn chính xác. 


Chị quanh năm ngày tháng ở quê mùa, chưa được đi nhiều nước, nhưng nghe nói ở Mỹ, con cái bị bố mẹ tát một phát là có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhà chức trách đến mà không chấp hành là có thể bị cưỡng chế. Hành vi ấy là văn minh hay là là "đàn áp dân" như Chuột nói ?


Chị thật, "tội gây rối trật tự công cộng" không phải là nặng lắm, nhưng ở xứ ta, ai đã phạm tội đó thì thường bị xã hội khinh rẻ và cẩn trọng đề phòng. Nói cho thật chỉ thấy mặt là đã phòng như phòng dại.


Thực tế cho thấy, nhóm người phạm tội này thường là kẻ lưu manh côn đồ, ít được giáo dục tử tế, hoặc được giáo dục nhưng lại mất dạy; thường có hành vi coi thường pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, thiếu kiềm chế, ưa bạo lực, và tự do phóng đãng trong hành vi. Hỡi GS Chuột, những người liên tiếp gây rối trật tự công cộng như thế có làm được chính trị không?


Chị đồng ý cới Chuột, chống Tàu xâm lược là một biểu hiện yêu nước. Nhưng lợi dụng chống Tàu để chống chế độ thì không còn là yêu nước nữa, mà nó là hành vi phản bội tổ quốc. 


Chả phải đi đâu xa, cứ vào mạng mà gúc chúng ta sẽ thấy hình ảnh Bùi Hằng lập đàn cầu cúng cho Trung Quốc đánh, để dạy cho lãnh đạo Việt Nam một bài học. Vậy Chuột lý giải như thế nào về hành vi của người đẹp Bùi Hằng trong trường hợp này?


2. "Tội chống Tàu"


Câu "Tội chống Tàu" rõ ràng không phải phát minh của Chuột, mà nó được chính Chuột đạo lại từ miệng cánh zân chủ lõ đít, nhằm đánh lận đỏ đen giữa việc biểu tình chống Tàu và lợi dụng biểu tình chống Tàu để chống chính quyề


Chị không tin GS Chuột của chúng ta lại không phân biệt nổi hai hành vi: "Biểu tình chống Tàu xâm lăng" với hành vi "lợi dụng biểu tình để chống chính quyền" của Bùi Hằng, hay những kẻ bịp bợm khác.


Dù có phủ dụ người đọc bằng một câu đúng: "Thật ra, cả nước VN, nếu có một cuộc điều tra xã hội và hỏi “bạn có chống Tàu xâm lăng” thì tôi nghĩ kết quả chắc phải là 99.9% nói “có”, thì Chuột cũng không thể lừa được ai khi viết: "công chúng VN ai cũng nghĩ ông Điếu Cày đi tù vì tội chống Tàu xâm lược". Và: "Có toà án nào trên thế giới mà phạt tù những người yêu nước"? Đó là sự thậm ngu của một kẻ mà tư duy chính trị chỉ lè tè như chó đái bờ rào.


Loài gặm nhấm thì không bao giờ hiểu được luật pháp. Nhẽ thế. 


Chị hỏi các bạn, tụt quần vạch vú chửi bới chính quyền có phải là chống Tàu? cưỡng đoạt tài sản của người khác, cản trở giao thông công cộng có phải là yêu nước? Môi giới mại dâm, "lấy lỗ làm lãi" có phải là chống ngoại xâm? Ăn cắp tiền thuế của nhân dân như Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), và Lê Quốc Quân (Kẻ đã bôi gio trát trấu vào mặt chúa Dê Su) liệu có phải là cách riêng để biểu lộ lòng yêu nước?


Hẳn nhiên lũ ăn cắp đó xộ khám bóc lịch về tội gì mọi người đều biết rõ.


Sẽ chẳng hề có tội danh nào mang tên "Tội chống Tàu" như GS Chuột khả kính của chúng ta chém gió phần phật như lão nông vẩy chim gốc chuối.


Chị thực sự thấy thất vọng!


3. Sỉ nhục đất nước


Chuột túi viết: "Để chuẩn bị cho chuyến đi của đặc phái viên của ngài tổng bí thư đảng CSVN sang Tàu, viên phát ngôn ngoại giao VN với giọng văn thành khẩn cho biết: "Phía Việt Nam lấy làm tiếc về vụ việc xảy ra đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp và công nhân TQ trong tháng 5 vừa qua, đồng thời lấy làm buồn về việc một số công nhân TQ bị thiệt mạng, bị thương trong vụ việc này. […] Hội hữu nghị Việt - Trung sẽ cử đoàn sang TQ thăm hỏi một số gia đình đại diện cho những người bị nạn".



YÊU CẦU GĐ SỞ GD&ĐT TP.HCM BÁO CÁO KHẨN VỤ SGK ĐIỆN TỬ

UBND TP.HCM vừa có thông báo khẩn gửi giám đốc Sở GD&ĐT TP liên quan đến Đề án thí điểm chương trình sách giáo khoa (SGK) điện tử lớp 1, 2, 3 bậc tiểu học TP.HCM.

Thông báo truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Hứa Ngọc Thuận. Theo đó, yêu cầu Giám đốc Sở GD&ĐT TP.HCM Lê Hồng Sơn tổng hợp ý kiến đóng góp của các đại biểu và công luận sau hai cuộc hội thảo về đề án trên, sau đó báo cáo cho Thường trực UBND TP.HCM trong vòng năm ngày làm việc.

Đề án của Sở GD&ĐT TP.HCM đề xuất kinh phí hơn 4.000 tỉ đồng để trang bị SGK điện tử bằng máy tính bảng cho học sinh tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 đã khiến dư luận xôn xao nhiều ngày qua và nhiều tờ báo đã lên tiếng về việc này. Trong đó,Người Lao động có bài “Đừng biến trẻ thành robot biết nói!”, Thanh Niên: “Ai trả tiền cho SGK điện tử”. Đặc biệt, Tuổi Trẻ với “Đề án SGK điện tử 4.000 tỉ đồng: Lộ máy tính bảng giáo dục AIC giá bèo”. Theo bài báo này, phóng viên đã phát hiện một chiếc máy tính bảng có tên Smart Education mang thương hiệu AIC Group tại một công ty có trụ sở ở TP.HCM. Theo đó, chiếc máy tính bảng Đài Loan này được báo giá 45 USD (khoảng 900.000 đồng), nếu mua với số lượng lớn giá có thể chỉ còn khoảng 500.000-700.000 đồng. Điều đáng nói, máy tính này có nhiều thông số y hệt chiếc máy tính bảng trong đề án SGK điện tử của TP.HCM (trong khi trong đề án, máy tính như vậy có giá gần 3 triệu đồng).

Báo Pháp Luật TP.HCM có bài phân tích về những tác hại và rủi ro cho trẻ và gia đình nếu đưa SGK điện tử vào các lớp 1, 2, 3. Đồng thời, nếu chỉ số hóa SGK đưa vào máy tính bảng mà gọi là “Đổi mới toàn diện giáo dục” là không chính xác.

Trả lời VTC News, PGS-TS Văn Như Cương cho rằng đề án sử dụng SGK điện tử tại TP.HCM chưa thấy được tác dụng cho học sinh mà chỉ có lợi cho nhà cung cấp thiết bị. Trong khi đó, nhiều chuyên gia chỉ ra rằng các nước tiên tiến nhất không hề áp dụng SGK điện tử ở cấp tiểu học.

TX

TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Khoai@:

Tên bài nguyên bản trên Amari Tx là "Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia có chủ quyền mà còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam", Tre Làng tự đặt lại là "Tuyên ngôn nhân quyền của nhà nước Việt Nam".


Nhân dân Việt Nam chào đón năm mới 2014

Trong một thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, xâm lược, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng: Quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình.

Hơn ai hết, Việt Nam từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, sự vi phạm lớn nhất quyền con người hiểu rõ rằng quyền con người là thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Chính phủ Việt Nam cho rằng, trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội, các giá trị văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá của mình cho một quốc gia khác. Việt Nam cho rằng, cần tiếp cận một cách toàn diện tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá trong một tổng thể hài hoà, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào. Đồng thời, các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng,quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội. Trong Hiến pháp sửa đổi năm 1992 thì chương về quyền con người được đặt vào vị trí hết sức quan trọng. Trước đây, Hiến pháp Việt Nam chỉ nêu ở phần sau, bây giờ đặt hẳn một chương về quyền con người, mà đó là xu hướng của thế giới. Việc Việt Nam trúng cử vào hội đồng nhân quyền liên hợp quốc là một đòn giáng mạnh vào một số cá nhân , tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam. Từ bấy lâu nay họ luôn “Hòa tấu” bài ca nhân quyền, họ xem đó là gót chân “Asin” của Việt Nam, để ngăn cản bất cứ chuyện gì mà Việt Nam hòa nhập với thế giới. Với cái gọi là ”Bảo bối” nhân quyền này một số cá nhân, hội đoàn người Việt có tư tưởng cực đoan ở hải ngoại mà đặc biệt tại Hoa Kỳ có lúc đã tác oai, tác quái, hết “Thư ngỏ” đến “Thỉnh Nguyện thư” gởi đi các nơi đặc biệt là các nhân vật hiện là dân biểu trong thượng hạ viện Mỹ hòng dùng chiêu bài này bôi nhọ hình ảnh nhân quyền ở Việt Nam. Trong các vấn đề về quyền con người. Phải khẳng định rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến bảo đảm an sinh xã hội. Đó là một trong những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra mặc dù thời gian qua kinh tế xã hội hết sức khó khăn, thế nhưng đầu tư cho an sinh xã hội vẫn được đảm bảo rất cao. Nhưng các nhà “Dân chủ” hoặc những thành phần chống cộng cực đoan cùng với một số cơ quan truyền thông việt ngữ ở hải ngoại vẫn cố tình không chấp nhận một sự thật hiển nhiên đã xảy ra là: Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất. Kết quả đó đã phản ảnh đúng những gì mà Việt Nam phấn đấu, hoàn thiện trong suốt một thời gian dài. Thực tế hàng năm Việt Nam rất tích cực đối thoại nhân quyền, mở rộng cửa sẵn sàng đối thoại. Qua đối thoại trực tiếp các nước, các tổ chức họ mới nhận thức được rằng, giữa thông tin sai lệch của một số đối tượng thì hoàn toàn khác xa với thực tế đang hàng ngày, hàng giờ đang diễn ra ở Việt Nam. Những mong muốn, quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người đã xóa tan sự nghi ngờ, phản bác lại những luận điệu vu khống, thóa mạ về nhân quyền Việt Nam của những người không thiện chí. Là thành viên của tổ chức nhân quyền Liên Hợp Quốc Việt Nam sẽ thể hiện trách nhiệm của mình một cách đầy đủ nhất.

KẾT LUẬN ĐIỀU TRA BỔ SUNG VỤ THẨM MỸ VIỆN CÁT TƯỜNG

Kết luận điều tra bổ sung vụ thẩm mỹ viện Cát Tường

Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường khi bị bắt - Ảnh: Quang Thế

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Hà Nội đã hoàn tất kết luận điều tra bổ sung vụ chết người tại thẩm mỹ viện Cát Tường, đề nghị truy tố bị can Nguyễn Mạnh Tường, giám đốc thẩm mỹ viện Cát Tường, về hành vi “xâm phạm thi thể mồ mả, hài cốt” và tội “vi phạm quy định khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất pha chế thuốc, cấp phát thuốc hoặc dịch vụ y tế khác”.

Nhân viên bảo vệ của thẩm mỹ viện là Đào Quang Khánh bị đề nghị truy tố về hành vi “xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt” và “trộm cắp tài sản”.

Trước đó, cơ quan điều tra đã kết luận vụ án và ngày 14-4-2014, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án này.

Tuy nhiên trong quá trình xét xử, TAND TP Hà Nội đã quyết định trả hồ sơ, yêu cầu điều tra bổ sung để làm rõ một số tình tiết của vụ án.

Đến ngày 18-7-2014, tại bến đò Vân Đức, huyện Gia Lâm, người dân và cơ quan công an đã phát hiện, vớt được một phần thi thể của nạn nhân Lê Thị Thanh Huyền. Kết quả giám định đã khẳng định thi thể này là của nạn nhân Huyền.

Chị Huyền bị chết như thế nào?

Trong vụ án này, bị can Đào Quang Khánh bị đề nghị truy tố về hành vi trộm cắp tài sản do đã lấy trộm một chiếc iPhone 5 của nạn nhân Lê Thị Thanh Huyền trị giá 12 triệu đồng.

Cơ quan điều tra cũng xác định thẩm mỹ viện của bị can Nguyễn Mạnh Tường chưa có giấy phép hoạt động của Sở Y tế Hà Nội, chỉ có đăng ký kinh doanh do Phòng tài chính kế hoạch quận Hai Bà Trưng cấp và giấy chứng nhận hành nghề cá nhân do Bộ Y tế cấp.

Kết luận điều tra bổ sung xác định trưa 19-10-2013, chị Huyền đi xe máy đến thẩm mỹ viện Cát Tường để hút mỡ bụng và nâng ngực thẩm mỹ theo hợp đồng đã thỏa thuận trước.

Nhân viên thẩm mỹ viện đã đưa chị Huyền vào phòng thử HIV và thử phản ứng thuốc tê thấy bình thường.

Đến 12g30, bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường yêu cầu nhân viên pha năm lọ thuốc gây tê, thử phản ứng thấy bình thường liền tiêm thuốc gây tê để tiến hành ca mổ.

Khi ca mổ kết thúc, chị Huyền được đưa ra ngoài phòng chờ. Khoảng 30 phút sau, thấy chị Huyền có biểu hiện co giật, nháy mắt, sùi bọt mép, ông Tường tiêm cho chị Huyền một mũi thuốc an thần loại Diafegam 10mg.

Khi thấy chị Huyền bình thường, ông Tường đi lễ cùng bạn tại chùa Quán Sứ, Hà Nội.

Đến khoảng 17g45 cùng ngày, thấy chị Huyền có biểu hiện tím tái, mạch khó bắt, không đo được huyết áp, nhân viên thẩm mỹ viện đã gọi điện cho bác sĩ Tường và được chỉ định tiêm cho chị Huyền hai ống thuốc trợ tim loại Adrenalin 2ml và hai ống thuốc chống dị ứng loại Dimedro 40mg, truyền dịch muối 9% và cho thở oxy.

Sau đó, Tường về thẩm mỹ viện, đồng thời gọi điện cho bác sĩ Nguyễn Quang Thành đến thẩm mỹ viện Cát Tường để cấp cứu cho chị Huyền cùng Tường nhưng không có kết quả.

Sau khi chị Huyền tử vong, Tường gọi điện thoại báo cho vợ là Nguyễn Thị Hằng và các nhân viên thẩm mỹ viện Cát Tường biết, đồng thời bảo nhân viên thu dọn đồ đạc gồm máy tính, camera, sổ sách, các dụng cụ y tế... mang đi chỗ khác gửi.

Theo đó, đầu thu camera được mang đến khu vực Long Biên vứt xuống sông, năm ổ cứng máy tính được đem vứt tại khu vực hồ Hoàng Cầu.

Vợ ngăn nhưng vẫn ném xác xuống sông

Khoảng 23g30, Nguyễn Mạnh Tường đã cùng Đào Quang Khánh đem thi thể chị Huyền lên ôtô đưa đến Bệnh viện Bưu Điện nhưng thấy có nhiều người và do thi thể chị Huyền bị cứng nên không dám mang vào gửi.

Đào Quang Khánh khi đó cầm theo túi xách và lái xe Lead của chị Huyền đi theo thấy thế liền nói không đưa xác vào bệnh viện mà mang ném xuống sông.

Tường đồng ý nên đã lái ôtô chở xác chị Huyền, Đào Quang Khánh chở Nguyễn Thị Hằng đi theo sau. Trên đường đi, Nguyễn Thị Hằng đã ngăn cản việc vứt xác nạn nhân nhưng cả Tường và Khánh đều không đồng ý.

Sau khi lên cầu Thanh Trì vứt xác nạn nhân, Tường lái xe đưa Khánh và vợ về nhà.

Do có hành vi ngăn cản chồng ném xác nạn nhân nên Nguyễn Thị Hằng được xác định không phạm tội.

Đối với một số nhân viên trung tâm thẩm mỹ tham gia phụ giúp Tường phẫu thuật thẩm mỹ gây nên cái chết của chị Huyền là tội phạm thực hiện với lỗi vô ý nên không có căn cứ xử lý đồng phạm.

Đối với Nguyễn Quang Thành, bác sĩ khoa ngoại Bệnh viện Bạch Mai được Tường gọi đến giúp cấp cứu chị Huyền nhưng nạn nhân tử vong, cơ quan điều tra xác định bác sĩ Thành biết sự việc nhưng không tố cáo với cơ quan điều tra.

Tuy nhiên, hành vi này không cấu thành tội nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự.

M.QUANG

Thứ Bảy, ngày 30 tháng 8 năm 2014

NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA TRẬT TỰ THẾ GIỚI ĐẾ QUỐC MỚI

Những Nguyên Lý CủaTrật Tự Thế Giới Đế Quốc Mới

Xin giới thiệu với bạn đọc bản dịch bài nghiên cứu "Principles of the Imperial New World Order" của giáo sư Edward S. Herman và David Peterson. Trong bài viết hai tác giả đã trình bày những nguyên lý cơ bản nhất của trật tự thế giới đế quốc mới mà trong đó Hoa Kỳ đóng vai trò trung tâm. Đây là một nghiên cứu đã xuất bản năm 2008 và tình hình thế giới hiện tại đang diễn ra theo đúng như những nguyên lý mà các tác giả đã trình bày.

Những nguyên lý của trật tự thế giới đế quốc mới

Chúng ta cần phải chấp nhận trong Trật tự Thế Giới Đế Quốc Mới (INWO), Liên Bang Soviet đã biến mất, Hoa Kỳ hiếu chiến và quân sự hóa cao độ đang thi triển sức mạnh khủng khiếp khắp toàn cầu, gây rối loạn và phá hủy phần lớn các khu vực trên toàn cầu trong các chiến dịch được viện dẫn lý do bảo vệ lợi ích của độc lập và ổn định, những nguyên lý sau khi được điều chỉnh đã trở nên rõ ràng. Phần lớn các nguyên lý là rất mới, nhưng cũng trơ trẽn hơn trong quá khứ khi chúng chuyển từ các quan hệ quyền lực thành sự khẳng định về quyền hay phủ nhận những quyền tương tự, những chuẩn mực kép tiếp tục được áp dụng rất nhiều trên thế giới. Ý nghĩa trong thế giới thực tế của những nguyên lý INWO do đó dựa trên ba nền tảng: (a) hoặc là Washington khẳng định các quyền cho bản thân (và trực tiếp hay ngụ ý cho các đồng minh thân cận, đối tác hay chư hầu); (b) hoặc là Washington phủ nhận các quyền của kẻ thù; và (c) hoặc là Washington không quan tâm theo bất cứ cách nào hay bất cứ ai khác. Như chúng ta trình bày tiếp theo, sự khẳng định dựa trên quyền lực hay phủ nhận các quyền được chấp nhận trong phạm vi từ các lãnh đạo đầy quyền lực của các quốc gia phương Tây, các ứng cử viên chính trị, và quan chức hàng đầu của Liên Hiệp Quốc, tới truyền thông chính thống, giới học giả có tiếng tăm. Họ đại diện cho sự thể chế hóa hệ thống quyền lực mà trong đó công lý không hoạt động và sự xuyên tạc ẩn mình sau đám mây mù của ngôn từ hùng biện và mị dân.

1. Quyền xâm lược: Hoa Kỳ đang tận hưởng quyền xâm lược hạng nhất và từ lâu đã trắng trợn vi phạm Hiến Chương Liên Hiệp Quốc vốn được dùng để ngăn chặn các “tội ác quốc tế cực kỳ nghiêm trọng” mà không bị bất cứ sự trừng phạt nhỏ nào (Việt Nam và toàn bộ Đông Dương, Panama, Nam Tư, Afghanistan, Iraq). Đối tác lớn nhất của họ là Israel cũng hành động tương tự (Lebannon vào năm 1982 và năm 2006, cùng với Syria, Algeria, và phần lãnh thổ Palestine bị chiếm đóng), và cũng không bị trừng phạt. Trong giới trí thức và chính trị của hai quốc gia này, các chủ để nổi bật trong các cuộc xâm lược hoàn toàn rất thực dụng và liên quan tới hiệu quả, chi phí (đối với kẻ xâm lược), việc quản lý tồi có thể xảy ra. Nhưng quyền xâm lược không bao giờ bị đả phá, cho dù là trong những quốc gia đi xâm lược hay quốc tế. Luật lệ chỉ áp dụng vô điều kiện với những quốc gia khác.

Một tương phản rõ nét, trong trường hợp các vụ chiếm đóng lãnh thổ khác của các quốc gia thù địch với phương Tây và Hoa Kỳ, như Việt Nam chiếm đóng Cambodia năm 1979 hay Iraq chiếm đóng Kuwait năm 1990, các lãnh đạo phương Tây và các học giả đã bày tỏ sự căm phẫn dữ dội, và cả hai vụ chiếm đóng đã bị trừng phạt khốc liệt (cuộc xâm lược trả đũa của Trung Quốc đối với Việt Nam, Hoa Kỳ cấm vận Việt Nam, Khmer Đỏ nhận được ghế của Cambodia tại Liên Hiệp Quốc; Iraq bị cuộc chiến tranh quy mô lớn do Hoa Kỳ lãnh đạo với sự chấp thuận của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, đẩy lùi khỏi Kuwait, cuộc chiến đó đã phá hủy Iraq, dẫn đến 13 năm cấm vận, và trên hết, cuộc xâm lược của Mỹ vào tháng 3 năm 2003). Sự khác biệt cơ bản giữa năm 1979 và năm 1990, mặc dù vậy là việc Liên Bang Soviet đã phủ quyết dự thảo Nghị quyết yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Cambodia của Hội Đồng Bảo An vào năm 1979, thay cho bình luận của đại sứ Australia “Chúng ta không thể chấp nhận chính sách nội bộ của bất kỳ chính quyền nào [Cambodia], bất kể là đáng trách ra sao, có thể biện hộ cho việc một chính quyền khác [Việt Nam] tấn công họ bằng quân sự”, [1] trong khi trong cuộc thảo luận của Hội Đồng Bảo An sau khi Iraq xâm lược Kuwait không có thành viên nào trong nhóm 5 thành viên thường trực phủ quyết một nghị quyết kêu gọi Iraq rút quân hay áp đặt cấm vận đối với nước xâm lược. Sự khác biệt giữa năm 1979 với năm 1990 và những năm sau đó chính là sự tồn tại của Liên Bang Soviet với quyền lực thế giới. 

2. Quyền khủng bố (và quyền giết chóc trên quy mô lớn mà không bị coi là khủng bố): Quyền này đồng thời với quyền xâm lược, ranh giới giữa chủ nghĩa khủng bố và xâm lược rất mờ nhạt và thông thường chỉ đơn giản là vấn đề quy mô; trong cả hai trường hợp, việc Hoa Kỳ ném bom và giết chóc không được diễn tả bằng những từ ngữ gây ác cảm.

Cuộc tấn công “sốc và sợ hãi” ban đầu của Hoa Kỳ vào Iraq rõ ràng là nhằm khủng bố các thành viên quân sự và thường dân, và các cuộc tấn công của Hoa Kỳ vào Fallujah [2] cũng như các nơi khác rõ ràng là kế hoạch khủng bố. Các cuộc tấn công quân sự của Israel cũng tương tự như vậy. Vấn đề là theo thể thức chính trị của phương Tây Israel không bao giờ khủng bố mà chỉ “đáp lại” và “trả đũa” những kẻ khủng bố. Nghị quyết 951 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc được đề xuất và thông qua ngày 5 tháng 3 với đa số tuyệt đối 404/405 khi Lực Lượng Phòng Thủ Israel tấn công man rợ vào các trại tị nạn của người Palestine ở dải Gaza, [3] tuyên bố “Các chiến dịch quân sự của chính quyền Israel ở dải Gaza chỉ nhằm vào lực lượng Hamas và các tổ chức khủng bố khác”, và bổ sung thêm “các thiệt hại dân sự ngoài ý muốn trong các chiến dịch quân sự phòng thủ nhằm vào các mục tiêu quân sự, mặc dù rất đáng tiếc, nhưng không tương đương về mặt đạo đức với chủ ý nhằm vào thường dân như Hamas và các nhóm khủng bố khác ở dải Gaza”.[4] Đó là lời biện minh rất thành thật cho nhà nước khủng bố Israel. Thứ nhất, các lãnh đạo Israel từ Abba Eban cho tới Ariel Sharon và thủ tướng Ehud Olmert hiện nay công khai thừa nhận mục tiêu khủng bố thường dân Palestine. Thứ hai, sự thật bị che dấu là số người Palestine bị Isreal giết hại “ngoài ý muốn” vượt xa số người Israel bị Hamas và người Palestine giết hại có chủ định (cụ thể, trước phong trào intifada thứ hai, tỷ lệ là 25:1; bắt đầu phong trào intifada thứ hai, là 4,6:1; từ tháng 11 hội nghị “hòa bình” ở Annapolis vừa qua, trở lại 21:1).[5] Thứ ba, sự giết chóc “ngoài ý muốn” của Israel trong thực tế là có chủ ý, quân đội Israel đã không ngần ngại sử dụng hỏa lực mạnh trong các khu vực đông dân cư ở Gaza và ở Lebanon mùa hè năm 2006, tại đó số thường dân thiệt mạng là rất lớn và có thể dự đoán được.[6]

3. Quyền thanh trừng sắc tộc: Phương Tây coi việc thanh trừng sắc tộc là đáng trách, và trút cả biển nước mắt cho các nạn nhân - nhưng chỉ khi thanh trừng sắc tộc do các đối tượng được định trước thực hiện hoặc có thể đổ tội cho họ, như người Serb ở Bosnia và Chính quyền Liên Bang Nam Tư của Milosevic những năm 1990 và chính quyền Hồi giáo Ở Sudan hiện nay. Sự thật là vụ thanh trừng sắc tộc của người Serb ở Bosnia diễn ra trong quá trình trả đũa lẫn nhau trong cuộc nội chiến, hai nhóm đối đầu (người Bosnia Hồi giáo và người Croatia) đã thanh trừng lẫn nhau. Milosevic không thanh trừng sắc tộc ở Kosovo để thay thế người Albania Kosovo bằng người định cư Serb; dân chúng bỏ chạy là hiện tượng đặc trưng của nội chiến và sau đó với bom của NATO cuộc chiến đã biến thành quy mô lớn.[7]


Tiếp tục với cấu trúc bịa đặt, tờ Cộng Hòa Mới (TNR) cho rằng “Rất nhiều điểm tương đồng giữa Dafur hiện nay và Kosovo năm 1999…Khi những kẻ nổi loạn tới Kosovo và Dafur, cả Belgrade và Khartoum đều quyết định chống lại du kích bằng cách nhắm vào thường dân vì du kích xuất hiện từ đó.”[8] Nhưng sự thật của TNR sai cả ở Dafur lẫn Kosovo; sự tương đồng duy nhất nằm trong những lựa chọn và toan tính của các quyền lực phương Tây đặt vào hai cuộc xung đột đó. Vào năm 2007, bản đánh giá của Chương Trình Môi Trường Liên Hiệp Quốc đã cho thấy “Môi trường suy thoái, cũng như sự biến đổi và bất ổn của khí hậu khu vực là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thiếu an ninh lương thực và xung đột ở Dafur…Khu vực bị bủa vây bởi các vấn đề kết hợp giữa tăng trưởng dân số, khai thác cạn kiệt tài nguyên và sự suy giảm rõ rệt lượng mưa trong dài hạn. Kết quả là phần lớn khu vực phía bắc và miền trung Dafur bị suy thoái trên quy mô rộng không thể cung cấp đủ các thứ thiết yếu cho cư dân nông thôn. [9] 

Mặt khác, trường hợp thật sự thanh trừng sắc tộc, và có liên quan toàn cầu vì gây ra sự oán hờn của người Arab và người Hồi giáo, là việc Isreal thường xuyên trục xuất người Palestine ra khỏi đất đai của họ trong vùng lãnh thổ bị chiếm đóng ở Bờ Tây và Đông Jerusalem để người Do Thái định cư. Phương Tây không bao giờ gọi trường hợp này là “thanh trừng sắc tộc”. Trái với sự thật được các lãnh đạo Israel thừa nhận công khai nhiều năm, mục tiêu của chính sách định cư là thay người Palestine bằng người Do thái, họ đã giết hại nhiều ngàn người trong quá trình định cư, phá hủy hơn 18’000 căn nhà của người Palestine kể từ cuộc xâm lược năm 1967. [10] và xua đuổi nhiều ngàn người phi Do Thái. John Dugard, báo cáo viên đặc trách của Liên Hiệp Quốc về nhân quyền trong phần lãnh thổ bị chiếm đóng của Palestine, đã thường xuyên cảnh báo về các hoạt động của Israel nhằm “làm cho các thành phố Do Thái hơn” và qua đó tước đoạt thủ đô của quốc gia Palestine tương lai. “Ý đồ rõ ràng trong các sự thay đổi là ngăn chặn mọi khả năng biến Đông Jerusalem trở thành thủ đô của quốc gia Palestine”, Dugard giải thích. “Xây dựng bức tường, mở rộng các khu định cư và phi Palestine hóa Jerusalem đang đe dọa sự tồn tại của quốc gia Palestine”.[11] Mặc dù vậy, tiêu chuẩn kép và đạo đức giả của phương Tây là rất đáng kinh ngạc, các lãnh đạo và truyền thông phương Tây đã hậu thuẫn tích cực cho quá trình thanh trừng sắc tộc có hệ thống kéo dài hàng thập kỷ, và Israel đã được vinh danh khi nạn nhân của họ phát khùng.[12] Rất rõ ràng là Israel thanh trừng sắc tộc và ăn cắp đất đai thuộc về người Palestine, nhưng điều đó được phương Tây hợp lý hóa thành cơ sở cho “nhu cầu an ninh” của Israel-theo tiêu chuẩn kép mang tính phân biệt chủng tộc của phương Tây thì người Palestine không có “nhu cầu an ninh”, sự phản đối quá trình khủng bố và chiếm đoạt của Israel đã bị tảng lờ. Đây mới là “phép màu” thực sự của Israel. 

4. Quyền lật đổ: Những vụ lật đổ khắp thế giới diễn ra thường xuyên suốt thời kỳ sau thế chiến thứ hai, cho thấy cùng với quyền xâm lược Hoa Kỳ còn có quyền can dự và lật đổ bất cứ chính quyền nào mà họ muốn. Cuộc can thiệp phản cách mạng vào Hy Lạp (1947-1949), lật đổ chính phủ của Mohammad Mosadded ở Iran (1953) và Jacobo Arbenz Guzman ở Guatemala (1954) trong thập kỷ đầu tiên của thời hậu thế chiến là những ví dụ điển hình cho thấy Hoa Kỳ đã sử dụng quyền ấy mà chỉ bị rất ít ràng buộc.[13] Cuộc can thiệp “chống du kích” của Hoa Kỳ vào nội chiến ở Hy Lạp là bằng chứng “các chiến dịch hoàn toàn do Hoa Kỳ chỉ huy và sự hiện diện của cố vấn trong các chiến dịch đánh phá”, Michael McClintock viết, thủ đoạn “ được ưu tiên hàng đầu trong các chương trình chống phá cách mạng của Hoa Kỳ từ Việt Nam đến El Salvado”.[14] (Mặc dù McClintock kết thúc lịch sử với năm 1990, nhưng chúng ta có thể mở rộng ra để bao quát cả Colombia, Nam Tư, Afghanistan và Iraq). Nhiều người đã đề cập tới “cái nôi trong chiến lược chiến tranh lạnh của Hoa Kỳ” như một bản đánh giá quân sự đã nêu năm những 1960, cuộc can thiệp vào Hy Lạp trở thành tiêu chuẩn vàng của chiến lược phản cách mạng sau đó được đổi tên nhưng không loại bỏ trong thực tiễn bởi “học thuyết Petraeus” huyền thoại và Hướng dẫn Chiến trường Phản Cách mạng được cập nhật của Hoa Kỳ (2006-2007) đang được phô trương như là một phần của “phong trào” Hoa Kỳ ở Iraq. Mặc dù, sự thay đổi thuật ngữ phản ánh “kết thúc của chiến tranh lạnh” và tuyên bố về “cuộc chiến chống khủng bố”, trong đó “làn sóng những kẻ nổi loạn mới” được nuôi dưỡng không phải bằng lật đổ theo kiểu “chủ nghĩa cộng sản” kiểu cũ mà bởi “các quốc gia yếu đuối và sai lầm” và trên tất cả là bởi “các yếu tố phi nhà nước” hay “khủng bố”, nhưng chiến lược thực tế vẫn giữ nguyên. [15]

Nhưng chính sách lật đổ của Hoa Kỳ có nhiều dạng. Trong năm 1982 nghiên cứu Mạng Lưới Khủng Bố Thực Sự trong phần về “Quyền tự nhiên được lật đổ của Hoa Kỳ”, [16] một bảng thống kê đã chính bày 12 loại lật đổ khác nhau được Hoa Kỳ dàn dựng tại 8 quốc gia Mỹ Latin và vùng Caribbe từ năm 1950 đến năm 1980. Bao gồm rất nhiều dạng bạo lực chống lại nhân dân và người nghèo, rất nhiều dạng mua chuộc, “tuyên truyền dối trá”, và trợ cấp trên quy mô lớn cho các ứng cử viên đối lập và phong trào phản kháng như các phong trào sinh viên và phụ nữ. Điều đó được tổng kết muộn hơn trong định nghĩa của Philip Agee về quy trình lật đổ đa cấp độ tại Ecuador trong đầu những năm 1960. Những quy trình đó được áp dụng ở Brazil (1964) và Chile (1973), và vẫn tiếp tục được sử dụng cho tới ngày nay - chúng ta kinh ngạc vì những thứ tương tự giữa giai đoạn đầu thời đại vàng của lật đổ và những thứ đang diễn ra hiện nay trong các mối đe dọa như Iran và Tây Tạng (miền tây Trung Quốc). [17] Nhưng điều đó diễn ở bất cứ đâu mà các hoạt động đội lốt chống lại “chủ nghĩa cộng sản lật đổ”, hiện nay chúng là một phần của “khuyến khích dân chủ”, “ngoại giao biến đổi”, “bảo vệ nhân quyền” và những thứ tương tự.

5. Quyền áp đặt trừng phạt: Quyền lực bá chủ không chỉ có quyền xâm lược, quyền khủng bố, quyền lật đổ mà còn có quyền áp đặt trừng phạt nên các mục tiêu, khiến cho nhân dân phải chịu đựng đau khổ, lãnh đạo của họ bị mất uy tín, thường xuyên trong hợp tác quốc tế. Liên bang Soviet, Cuba của Castro, Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1994, Nicaragua dưới thời Sadinista, Iran kể từ khi Shah bị lật đổ năm 1979, Lybia, Iraq sau cuộc xâm lược Iraq năm 1990, Liên bang Nam Tư từ năm 1992 (và nước cộng hòa Serbia cho tới nay), và Afghanistan dưới thời Taliban, tất cả đều là đối tượng cho sự trừng phạt của Hoa Kỳ. Nhưng cũng cần phải nói thêm là Hoa Kỳ và hầu hết các đối tác không bao giờ là đối tượng bị trừng phạt, ngay cả khi phạm vào những tội thuộc loại Nuremberg như xâm lược hay các tội chiến tranh nghiêm trọng khác. Tiêu chuẩn kép rất hiển nhiên.

Điều thần kỳ khác của tiêu chuẩn kép, không chỉ Israel không bao giờ bị trừng phạt đối với các vi phạm bất tận Hiệp Ước Geneva thứ tư bảo vệ thường dân trong các lãnh thổ bị chiếm đóng quân sự và trả thù tập thể người Palestine ở dải Gaza, nhưng từ năm 2006, “cộng đồng quốc tế” đã tham gia cùng trục Hoa Kỳ-Israel áp đặt trừng phạt đối với các nạn nhân bị cố ý bần cùng hóa, bị đói khát, bị cướp đoạt theo mọi cách. Theo lời của 8 nhóm hoạt động nhân đạo Anh, việc Israel bao vây Gaza đã biến 1,5 triệu người thành “nhân dân bị cầm tù”, vô hiệu hóa kinh tế của họ, phá hủy các cơ sở vật chất, làm hư hại các dịch vụ cơ bản như y tế và giáo dục. Hiện nay, ít nhất 80% người Palestine ở Gaza phải “phụ thuộc vào trợ cấp nhân đạo” để sống hàng ngày. Các nhóm trên báo cáo: “Chính sách của Israel tác động tới dân cư…không phân biệt và tạo thành sự trả thù tập thể…vi phạm luật nhân đạo quốc tế”. [18] Mô tả cuộc sống của người Palestine ở dải Gaza khi “bị bao vây”, báo cáo viên chuyên trách của Liên Hiệp Quốc John Dugard cho biết họ “là đối tượng của cuộc trừng phạt quốc tế nghiêm khắc nhất trong lịch sử hiện đại..lần đầu tiên những người trong lãnh thổ chiếm đóng bị đối xử như vậy…Israel đã vi phạm các nghị quyết chủ chốt của Hội Đồng Bảo An và Đại Hội Đồng về thay đổi lãnh thổ bất hợp pháp và vi phạm nhân quyền cũng như không thực hiện theo ý kiến tư vấn của Tòa Công Lý Quốc Tế năm 2004, mặc dù vậy họ không bị trừng phạt…Cần phải nhắc lại là các quốc gia phương Tây đã từ chối áp đặt trừng phạt kinh tế đối với Nam Phi để kêu gọi họ xóa bỏ chế độ apartheid làm tổn thương người da màu ở Nam Phi. Không có sự ưu ái nào được mở rộng cho người Palestine hay nhân quyền của họ”. [19] Nhưng chúng ta có thể hiểu được sự ngạc nhiên của báo cáo viên chuyên trách khi nhớ rằng nguyên lý thực sự của INWO là không bị trừng phạt vì các tội ác nghiêm trọng và được thưởng vì các hành vi tốt. Quyền lực, quyền lực trên hết, đó là nguyên tắc thống trị.

6. Quyền chống xâm lược: Quan điểm nổi bật trong báo cáo của John Dugard là trong mắt phương Tây thì người Palestine ở dải Gaza không có quyền chống lại các hoạt động xâm lược của Israel, mặc dù các cuộc tấn công đó dẫn đến chiếm đóng bất hợp pháp và quá trình thanh trừng sắc tộc tàn khốc. Trong hệ tư tưởng phương Tây, người Palestine tấn công Israel, nếu không là “xâm lược” thì cũng là một dạng “khủng bố” không thể tha thứ, phản kháng bất hợp pháp, và họ đáng phải gánh chịu bất cứ thứ gì khốc liệt mà Israel sử dụng để trả thù tập thể ở Gaza. Trong một thông cáo công bố đầu tháng tư, Tổng thư ký Sáng Kiến Quốc Gia Palestine và nghị sĩ Quốc Hội Mustafa Al-Barghouthi ghi nhận rằng kể từ hội nghị Annapolis số lượng các cuộc tấn công tăng lên 300%, “riêng khu vực Bờ Tây là 46%”, các cuộc tấn công vào Bờ Tây cho thấy mục tiêu thật sự của Israel “không có liên quan gì đến các vụ tấn công bằng rocket của lực lượng kháng chiến Palestine vào dải Gaza”. Tính đến đầu tháng tư, Israel đã thả 788 tù nhân Palestine kể từ hội nghị Annapolis, nhưng họ lại bắt giam 2175 tù nhân mới; tăng thêm số lượng các điểm kiểm soát ở Bờ Tây, và tiếp tục xây dựng bức tường ngăn; điều quan trọng nhất là tiếp tục gia tăng số lượng các khu định cư Do Thái ở Bờ Tây. [20] John Duguard thậm chí đã so sánh các vụ đánh bom tự sát và bắn rocket Quassam của người Palestine với hoạt động kháng chiến chống phát xít Đức tại các quốc gia châu Âu thời thế chiến thứ II. “Ý thức cộng đồng…thúc đẩy”, Dugard lập luận, “đó là sự khác biệt giữa hành động khủng bố mất trí…và hành động trong chiến tranh giải phóng quốc gia chống lại chế độ thuộc địa, chế độ apartheid hay chiếm đóng quân sự…hậu quả đau thương không thể tránh khỏi của chế độ thuộc địa, chế độ apartheid hay chiếm đóng. Lịch sử luôn tái hiện những ví dụ chiếm đóng quân sự sẽ bị phản kháng bằng bạo lực…Điều đó là lý do khiến cho sự chiếm đóng cần phải nhanh chóng chấm dứt. Trước khi đó thì không thể hy vọng có hòa bình và bạo lực sẽ tiếp diễn”. [21] 

Các cuộc tấn công qua biên giới mà nước thực hiện không có quyền xâm lược - Việt Nam ở Cambodia, Iraq ở Kuwait - nạn nhân của những vụ tấn công bất hợp pháp có quyền kháng chiến và cộng đồng quốc tế đổ xô vào cứu trợ. Trái lại, những nước chống lại các cuộc tấn công từ các quốc gia có quyền xâm lược - Israel xâm lược Lebanon 1982 và 2006, Hoa Kỳ và liên minh tấn công và xâm lược Nam Tư, Afghanistan và Iraq suốt mười năm qua - không có quyền phản kháng, và sự phản kháng của họ được coi là “khủng bố”. Ngay cả khi chỉ hoạt động tại Lebanon, Hezbollah bị tuyên bố là tổ chức “khủng bố” được một nhà nước tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố hỗ trợ, đó là Iran. Trước cuộc xâm lược định cư vào tháng 8 năm 2006, lực lượng mũ nồi xanh của Liên Hiệp Quốc đã triển khai ở Lebanon nhanh hơn ở Israel, thậm chí ngay cả khi Israel đã xâm lược Lebanon; lý do của Liên Hiệp Quốc là triển khai để ngăn chặn lực lượng Hezbollah và bảo vệ biên giới phía bắc của nước xâm lược. [22] Tương tự, kháng chiến chống lại cuộc xâm lược-chiếm đóng Iraq của Hoa Kỳ được gọi là “phản loạn” trong các cuộc đối thoại ở thủ đô các nước phương Tây chủ chốt, nhưng không phải ở các nước đang bị quân đội xâm lược chiếm đóng. Trong lời khai trước Quốc Hội Hoa Kỳ vào đầu tháng tư, tướng David Petraeus định nghĩa “bản chất tự nhiên của các xung đột” tại Irag là “cạnh tranh giữa các sắc tộc và giữa các cộng đồng phe phái về quyền lực và tài nguyên”, các lực lượng cạnh tranh bao gồm “khủng bố, phản loạn, quân sự cực đoan, và các băng đảng tội phạm”, cái gọi là “Al Qaeda ở Iraq”, Syria, và các “nhóm đặc biệt” mà Bộ Chỉ Huy Trung Tâm Hoa Kỳ khẳng định là hoạt động theo lệnh của Iran [23] Bởi vì “bản chất tự nhiên của xung đột” loại trừ bất cứ nguyên nhân trực tiếp nào từ quốc gia có quân đội xâm lược Iraq, chiếm đóng lãnh thổ, và hiện giờ đã là sáu năm đàn áp dã man phong trào phản kháng chống lại sự chiếm đóng ấy, không có bất cứ sở chỉ huy nào coi đó là vấn đề. Cộng đồng quốc tế khẳng định quyền của kẻ xâm lược đặc biệt này là được phép đàn áp phong trào phản kháng với bất cứ công cụ nào. Quyền phá hủy một đất nước để bảo vệ nó là sự kết hợp giữa quyền xâm lược và phủ nhận quyền chống xâm lược.

7. Quyền tự vệ: Mục tiêu của kẻ thống trị không có quyền tự vệ. Khi nước Guatemala nhỏ bé vào năm 1953-1954 và Nicaragua vào những năm 1980, bị Hoa Kỳ đe dọa tấn công, yêu cầu vũ khí từ khối Soviet, đã khiến cộng đồng chính trị và truyền thông Hoa Kỳ phẫn nộ và hoảng loạn. Điều đó cho thấy các quốc gia bị đe dọa và việc tìm kiếm vũ khí của họ không phải là tự vệ hợp pháp, đó là sự đe dọa đối với người khổng lồ đáng thương và các quốc gia láng giềng của những nước kia. Tương tự, với Iran trong danh sách mới đây của Hoa Kỳ về những nước cần xử lý, mặc dù bị bao quanh bởi quân đội Hoa Kỳ thù địch và bị cả Hoa Kỳ và Israel đe dọa công khai, quyền tự vệ của họ bị bãi bỏ. Dưới sự thúc ép của Hoa Kỳ, Hội Đồng Bảo An đã thiết lập 3 vòng trừng phạt Iran về chương trình hạt nhân hợp pháp, và Iran rõ ràng là không thể chống lại vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ và Israel với bất cứ vũ khí nào họ có - mặc dù đang bị đe dọa tấn công tức thì, không có bất cứ phân tích nghiêm chỉnh nào cho thấy Iran có vũ khí hạt nhân. Nói ngắn gọn, họ không có quyền tự vệ.

Hoa Kỳ và Israel có thể vũ trang tới tận chân răng và đe dọa gây chiến tranh để đảm bảo nhu cầu “an ninh” và thực hiện quyền tự vệ. Nhưng các mục tiêu của họ không được phép có những quyền hay nhu cầu hợp pháp. Như Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-Moon phát biểu trong cuộc họp khẩn cấp của Hội Đồng Bảo An và ngày 1 tháng 3: “Tôi lên án các vụ tấn công bằng rocket của người Palestine, và kêu gọi chấm dứt ngay lập tức các hành vi khủng bố này…Trong khi khẳng định quyền tự vệ của Israel, tôi lên án việc sử dụng vũ lực không kiềm chế và quá mức cần thiết khiến cho nhiều thường dân bao gồm cả trẻ em bị chết và bị thương. Tôi kêu gọi Israel hủy bỏ các cuộc tấn công đó.”[24] Ở đây chúng ta lưu ý là tuyên bố đó được đưa ra bốn ngày sau cuộc tấn công khủng khiếp của Lực Lượng Phòng Vệ Israel vào dải Gaza, để lại khoảng 120 xác chết người Palestine, 60 người bị giết chỉ trong một ngày, trong đó có 39 thường dân. [25] Ban Ki-Moon đề cập một cách hết sức thận trọng tới cuộc tấn công đẫm máu và bất hợp pháp của Israel vào dải Gaza với cụm từ bổ sung “khẳng định quyền tự vệ của Israel”. Đối với kẻ thống trị, đối tác ưa thích của kẻ thống trị chỉ tự vệ.

8. Quyền chế tạo vũ khí hạt nhân: Hoa Kỳ và các quyền lực lớn khác tận hưởng quyền sở hữu vũ khí hạt nhân, cũng như bất cứ quốc gia nào được Hoa Kỳ chấp nhận (tất nhiên là Israel, ngoài ra còn có Ấn Độ và Pakistan). Nhưng đối với các mục tiêu như Iran hay Bắc Triều Tiên, Hoa Kỳ phủ nhận quyền sở hữu vũ khí hạt nhân của họ; đặc biệt là trường hợp Iran, Hoa Kỳ thậm chí từ chối quyền hợp pháp của Iran theo Hiệp Ước Không Phổ Biến Vũ Khí Hạt Nhân (NPT) là được làm giàu Uranium cho “các mục tiêu hòa bình mà không bị bất cứ sự phân biệt đối xử nào”. [26] Thay vào đó, Hoa Kỳ sử dụng cáo buộc Iran không hợp tác toàn diện với Ủy Ban Quốc Tế Về Năng Lượng Nguyên Tử (IAEA) và quan trọng hơn, Iran không chịu từ bỏ các quyền của họ theo NPT, làm cơ sở cho việc xúc phạm, trừng phạt và cho kế hoạch tấn công lâu dài chống lại Iran cũng như cho khả năng “thay đổi chế độ”. Như Liên Hiệp Quốc và cộng đồng quốc tế đã từng hỗ trợ cuộc xâm lược Afghanistan và Iraq của Hoa Kỳ, họ tiếp tục cùng với kẻ thống trị phủ nhận quyền hạt nhân hòa bình của Iran và nuôi dưỡng môi trường đạo đức cho các cuộc xâm lược khác của Hoa Kỳ và Israel. [27]

Israel tất nhiên là không bao giờ bị bất cứ trừng phạt nào, cho dù là từ chối tham gia NPT hay phát triển trái phép các vũ khí hạt nhân 40 năm trước đây.[28] Cho dù Hoa Kỳ từ chối nghĩa vụ NPT của họ để đàm phán “trong niềm tin chân thành vào các biện pháp hiệu quả nhằm chấm dứt cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân” và về “một hiệp ước giải trừ quân bị tổng thể và hoàn toàn” thì uy tín của họ cũng không ảnh hưởng, ngay cả trong việc kêu gọi các chính sách và sự trừng phạt các quốc gia khác vi phạm NPT ở mức độ thấp hơn.[29] Cũng giống như bất cứ thứ gì khác trong trật tự quốc tế, những quyền lực lớn hơn có cái quyền mà họ phủ nhận của những quyền lực nhỏ hơn, và họ làm vậy mà không hề bị coi là vi phạm các hiệp định hay luật lệ quốc tế.

9. Quyền coi nạn nhân thường dân của họ là xứng đáng với sự đồng cảm quốc tế: Cộng đồng thế giới kinh hoàng về vụ tấn công ngày 11.9 của Al Qaeda, cuộc tấn công đã giết hại gần 3000 người trong lãnh thổ Hoa Kỳ. Nhưng ngay cả một cuộc thảm sát nhỏ các công dân phương Tây, như vụ giết hại tám sinh viên tại học viện Do Thái Mercaz Harav ở Đông Jerusalem ngày 6 tháng 3, cũng được đưa tiêu đề trang nhất với sự căm phẫn cực độ. Từ “thảm sát” thường xuyên được dùng cho các sự kiện đó. Cuộc tấn công của một tay súng Palestine duy nhất vào các sinh viên trường dòng được ngài Ban Ki-Moon mô tả là “man rợ”, và theo các nói của George Bush là “tấn công dã man và độc ác vào thường dân vô tội đáng bị tất cả các quốc gia lên án”.[30] Trái lại, vụ trả thù bằng không lực sau ngày 11 tháng 9 của Hoa Kỳ đã giết hại hơn 3000 người Afghanistan, và chiến dịch “Hot Winter” kéo dài hai tuần (27.2-10.3) của Lực Lượng Phòng Vệ Israel đã giết hại 127 người Palestine ở dải Gaza, phần lớn trong số họ là thường dân không có vũ trang, bao gồm nhiều trẻ em, được xử lý rất nhẹ nhàng, không bị coi là “thảm sát” hay “dã man” và thường được xin lỗi là “thiệt hại ngoài ý muốn” và “nhầm lẫn đáng tiếc”. Thỉnh thoảng Israel bị chỉ trích vì “sử dụng vũ lực không kiềm chế và quá mức cần thiết” và nhắc nhở phải “kiềm chế tối đa”, nhưng họ không bao giờ bị lên án vì các vụ giết hại dã man và không phân biệt, các vụ giết hại được thực hiện với hệ thống mệnh lệnh rõ ràng và chắc chắn từ Văn Phòng Thủ Tướng tới các tướng lĩnh trong IDF cho tới các phi công điều khiển máy bay F-16 hay trực thăng Apache. “Có sự khác biệt rõ ràng giữa các vụ tấn công khủng bố bằng rocket nhằm vào dân thường và các hoạt động tự vệ”, người phát ngôn Ủy Ban An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (NSA) Gordon Johndroe giải thích [31] - chỉ có rất ít đại diện của phương Tây không đếm xỉa đến sự khác biệt ấy, và chỉ khi sự nghiệp của họ bị nguy hiểm. Thậm chí trong trường hợp bi kịch hơn nhiều, ngoại trưởng Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Madaleine Albright năm 1996 thú nhận trên đài truyền hình Hoa Kỳ về cái chết của “nửa triệu” trẻ em Iraq, kết quả việc trừng phạt của Hoa Kỳ-Anh-Liên Hiệp Quốc, là “đáng giá”, không chỉ không bao giờ đưa ra lời xin lỗi về vụ “thảm sát”-lời thú nhận ấy cũng hiếm khi được ghi nhận ở phương Tây. [32]

Chúng ta đang bàn luận về sự khác biệt căn bản giữa nạn nhân “đáng giá” và không “không đáng giá”, giữa “con người” và “không phải con người”, sự khác biệt đã cho phép phương Tây giết hại và tước đoạt của hàng triệu người dã man, mọi đen, mọi vàng, mọi Hồi giáo, và những người không phải da trắng phương Tây suốt hàng thế kỷ mà không hề bị ảnh hưởng chút mảy may nào tới đạo đức. [33] Đã từ lâu việc coi họ là mọi đen là không thể chấp được (nhưng mọi Hồi giáo vẫn xuất hiện thường xuyên), song mọi thứ đều ổn thỏa khi ghi nhận rằng “chúng ta không đếm xác” và thú nhận rằng tấn công trực tiếp vào các cơ sở dân sự - dẫn nước vào biển, nơi có những con cá khủng bố đang bơi - là các sự việc có thể chấp nhận được trong hoạt động quân sự. Sự phân chia cổ xưa giữa Chúng Ta và Họ được tiến hành đầy tự tin - chủ yếu là bằng sự im lặng hay áp dụng tiêu chuẩn kép - điều đó được công chúng bình thường hóa và không cảnh báo. Do vậy, có tiếng nói quan ngại về các nạn nhân thường dân ở Darfur, Zimbabwe và Tây Tạng, cả ba trường hợp đều là các lãnh thổ quốc gia nằm trong tầm ngắm của phương Tây; [34] trong khi quan ngại đạo đức về nạn nhân thường dân bị can thiệp một cách có hệ thống để không đề cập tới người dân Afghanistan, Iraq, Công Gô, Columbia, và Palestine, những nước đang bị phương Tây và đối tác của họ lạm dụng. 

10. “Quyền được tồn tại” (và quyền yêu cầu các mục tiêu thừa nhận “quyền được tồn tại của nước khác): Quyền được tồn tại là công cụ chống đỡ cho chính sách từ chối định cư có thỏa thuận với người Palestine của Hoa Kỳ và Israel, dẫn đến cuộc xung đột bị kéo dài, hậu quả là biên giới không được phân định, và đất đai của người Palestine trở thành miếng mồi ngon cho sự xâm chiếm của Israel. Điều đó tạo cơ hội cho Israel và ân nhân của họ công nhận có điều kiện bất cứ tác nhân phi nhà nước nào mà họ chọn, như PLO, Hamas và Hezbollah và các quốc gia khu vực như Iran và Syria trước đó-bất cứ khi nào họ chọn, thì điều kiện là các bên đều phải công nhận “quyền được tồn tại của Israel”. Một phần trong các đàm phán là khẳng định sự tồn tại hữu hình của Israel có thể bị đe dọa nghiêm trọng, nhưng đó là điều ít bị từ chối nhất, bởi nó chỉ tạo ra mâu thuẫn nhỏ, điều dối trá của tuyên truyền nằm ở sự mập mờ: Israel có quyền tồn tại như một nhà nước Do Thái? Quyền được chấp nhận mà không đếm xỉa đến quyền được trở về tổ quốc của những người tị nạn phi Do Thái bị thanh trừng? Chúng ta tin rằng khái niệm tăm tối “quyền” chỉ là một cách để hạ thủ trước trong cuộc xung đột định cư giữa Israel và Palestine, khi mà Israel tiếp tục truất quyền của phần lớn mọi người bằng cách phủ nhận quyền được tồn tại của họ. Những vấn đề là không có gì đáng phải tranh cãi ở phương Tây, nơi quyền được tồn tại của Israel được khẳng định và nhu cầu làm việc đó là tự nguyện không cần bất cứ sự thúc đẩy nào, giống như một dạng kiểm tra về lòng trung thành, sự tuân thủ hay cơ chế kỷ luật. 

Kết quả của những quan sát này cho thấy sự thật là việc sử dụng cụm từ “quyền được tồn tại” hầu như chỉ được áp dụng cho Israel, không cho bất cứ quốc gia hay dân tộc nào khác trên thế giới. Để minh họa điều đó, chúng tôi tạo ra một loạt tìm kiếm trên cơ sở dữ liệu của Factiva và Nexis để xem xét về cụm từ “quyền được tồn tại của Israel” trong 31 tháng từ 1.12.2005 đến 31.3.2008; sau đó chúng tôi lặp lại tìm kiếm tương tự, nhưng thay bằng tên của 28 quốc gia khác nhau vào vị trí từ “Israel”. (Ví dụ “quyền được tồn tại của Palestine”, “quyền được tồn tại của Pháp”, và tương tự.) Khi tìm kiếm trên phân loại toàn diện nhất, phân loại “Tất cả các nguồn”, chúng tôi tìm thấy 8689 mục đề cập đến cụm từ “quyền tồn tại của Israel” trong khi chỉ có 15 mục đề cập tới “quyền được tồn tại của Palestine” và 7 mục đề cập tới “quyền được tồn tại của dân tộc Palestine”. Sử dụng cơ sở dữ liệu Nexis để tìm kiếm nội dung trên tờ New York Times cũng cho kết quả một chiều tương tự: Trong khi có 120 mục đề cập tới “quyền được tồn tại của Israel”, thì không có bất cứ mục nào trong kho dữ liệu của tờ New York Times đề cập tới “quyền được tồn tại’ của bất cứ quốc gia nào trong số 28 quốc đã nêu.

Điều đó có nghĩa là quyền được tồn tại chỉ liên quan tới nhà nước được trang bị vũ khí hạt nhân và được Hoa Kỳ bảo vệ, đó là nhà nước Israel, không bất cứ quốc gia hay dân tộc hay chủng tộc nào khác? Mặt khác, quyền được tồn tại của Palestine là sự thật - thậm chí chúng ta có thể nói là vấn đề sống còn, cũng như Israel đã từ chối công nhận sự tồn tại của quốc gia Palestine suốt sáu thập kỷ qua, chỉ công nhận nhà nước Palestine với biên giới được phân định rõ ràng. Sự thiên lệch mang tính cấu trúc trong bằng chứng đã đạt đến chiều sâu. 

Kết luận: Quyền có dân chủ thực chất hay dân chủ trò hề?

Sự thống nhất các nguyên lý của Trật Tự Thế Giới Đế Quốc Mới cho thấy sự suy giảm trên toàn cầu của dân chủ thực chất, tầng lớp tinh hoa chính trị toàn cầu đã có thể làm cái mà họ muốn để phục vụ cho lợi ích của họ - bộ ba thần thánh của chương trình tân tự do, quân sự hóa và thực thi quyền lực - đang đối đầu phổ biến với bộ phận dân chúng bị cai trị. Một tuyên bố bi kịch trong chương trình đối thoại giữa phóng viên Martha Raddatz của ABC- TV New và phó tổng thống Dick Cheney. Phó tổng thống được hỏi nghĩ gì khi hai phần ba công chúng Hoa Kỳ cho rằng cuộc chiến Iraq là “không đáng để tấn công”, Cheney trả lời: “Thế à?” [35] Sự coi thường cái mà công chúng muốn và niềm tin phổ biến trong giới chính khách đang nắm quyền về sự lầm lẫn của công chúng - ngoại trừ công nhân, người tiêu dùng, và bộ phận mà phiếu bầu của họ chỉ được thu hoạch một lần mỗi kỳ bầu cử - là không thể rõ ràng hơn.

Tầng lớp tinh hoa coi thường sự đồng thuận tỏa ra khắp truyền thông Hoa Kỳ. Trong khảo sát ý kiến quan trọng được công bố hai ngày sau cuộc đối thoại Raddatz - Cheney (sự thật là cuộc đối thoại của họ nhằm nhấn mạnh kết quả khảo sát), 77% người trả lời Hoa Kỳ đồng ý với điều 21 của Tuyên Ngôn Phổ Quát về Nhân Quyền rằng “ý chí của nhân dân [phải] là cơ sở cho quyền lực của chính quyền”. Một tỷ lệ cao đặc biệt 94% người được hỏi cho rằng chính phủ Hoa Kỳ “phải chú ý tới ý kiến của dân chúng khi ra quyết định”. Nhưng khi được hỏi rằng Hoa Kỳ bị “một nhóm nhỏ có lợi ích lớn điểu hành vì lợi ích của bản thân” hay “điều hành vì lợi ích của mọi người”, 80% đã trả lời là “một nhóm nhỏ có lợi ích lớn”. [36] Do được thực hiện trong năm bầu cử tổng thống, và dội gáo nước lạnh vào ý nghĩ của người Mỹ rằng họ sở hữu đời sống chính trị, nên kết quả khảo sát đã không được truyền thông đưa tin, trái lại một khảo sát cũng tương tự của chính hãng đó tại sáu quốc gia trên thế giới hỏi ý kiến mọi người về Trung Quốc đã được đưa tin rộng rãi.[37]

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 8 năm 2014

DÂM NỮ XỨ HUẾ- ANH EM CẨN THẬN NHÉ!

Khoai@

Anh đọc xong thấy choáng luôn.

Anh em nên đọc bài này để đề phòng và coi đó là hành trang cần thiết cho cuộc sống. Ke ke.

Chúc an toàn và may mắn.

“Kiều nữ” tra tấn tình nhân trẻ đến chết

Có một đặc điểm bất thường là Na rất thích “cặp kè” với “trai tơ” nhỏ tuổi hơn mình. Muốn lọt vào “mắt xanh” của Na, các thanh niên phải khỏe mạnh và đẹp trai. “Những đứa này chị Na cho ăn nhậu, tiền tiêu nhưng phải phục tùng chị. Em quen chị ấy được 5 tháng, thấy chị ấy đã “vui vẻ” cùng với 5 người, chán chê là bỏ.

Chân dung “kiều nữ” cướp mạng người tình trẻ

(PLO) - "Kiều nữ" có một dàn tình nhân trẻ, mặc dù cứ "nóng" lên là lại dùng vũ lực đánh tình nhân không nương tay. Hậu quả của một lần nổi nóng trong cuộc nhậu, một người tình trẻ của ả đã bị thiệt mạng.

Đoạt mạng người tình sau cuộc nhậu

Chị Lê Thị Kim Ánh (tên thường gọi là Na, Bé Đen, 26 tuổi, tạm trú tại khu nhà trọ 9/23/131 đường Trần Phú, phường Phước Vĩnh, TP Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế) đã chia tay “chồng hờ”, nuôi con nhỏ 2 tuổi nhưng sống rất đầy đủ vật chất, tiêu xài thoải mái nhờ “viện trợ” của một “tình già” là Việt kiều Mỹ. 

Đêm 10/8, Na nhậu với một số người bạn, sau đó vì mâu thuẫn nhỏ mà đã dùng dao đâm một nhát vào tim “người tình trẻ” là anh Nguyễn Văn Phụng (tên thường gọi là Rôn, 24 tuổi, ngụ kiệt 44, đường Lê Ngô Cát, TP.Huế) làm nạn nhân tử vong tại chỗ.

Khoảng 22h ngày 10/8, người dân kiệt 131 đường Trần Phú giật thót mình khi nghe tiếng la hét thất thanh phát ra từ nhà trọ của chị Ánh. Có mặt ở phòng trọ của Ánh, nhiều người dân thấy la liệt vỏ lon bia, trái cây, các món mồi nhậu và cạnh tấm nệm là một thanh niên nằm gục xuống.

Trước đó, lúc 19h ngày 10/8, anh Phụng gọi một số người bạn của mình tới phòng trọ của Na để ăn nhậu. Ngoài Na và Phụng, tham gia cuộc nhậu còn có Nguyễn Quốc Anh (19 tuổi, ngụ 6/13 Ưng Bình, TP.Huế), Lương Hoàng Vũ (20 tuổi, ngụ 1/128 Phan Chu Trinh, TP.Huế), Nguyễn Hải Nhật Minh (22 tuổi, ngụ phường Thủy Biều, TP.Huế), Huỳnh Lê Tuấn Long (21 tuổi, ngụ 17 Ngô Gia Tự, TP.Huế), Nguyễn Thị Xuân Ly (35 tuổi, ngụ kiệt 131 Trần Phú, TP.Huế). Cuộc nhậu còn có Bình (23 tuổi, ngụ Vỹ Dạ) về nhà trước và thêm 2 người bạn khác của Phụng tới sau. 

Mẹ của nạn nhân: “Trước nó hiền nhưng chơi với người không tốt nên mới bị chết thảm”

Lương Hoàng Vũ và Huỳnh Lê Tuấn Long là những người có mặt tại cuộc nhậu kể lại sự việc: “Chị Na và anh Phụng yêu nhau được một tháng nay, còn bọn em đều là “bạn cùng hội” của nhau, mọi người đều lần thứ hai lên trọ của chị để nhậu. Hôm đó là ngày rằm tháng 7, lễ Vu Lan, trời vừa mới tối là anh Phụng đã gọi rồi. Lên tới nơi chị Na vui vẻ tiếp đón, chị chi toàn bộ tiền mua bia và mồi. 

Trong lúc ngồi nhậu xảy ra lời qua tiếng lại giữa hai người đó. Chị Na liên tục đánh anh Phụng, có lúc lên ngực, có lúc lại bạt tai. Thậm chí chị ta còn đội nắp của nồi lẩu vào nhưng anh Phụng không hề chống cự. Chỉ cần anh Phụng xưng hô “tau mi”, có cô gái nào điện thoại, nhắn tin hay anh Phụng nói một ý gì đó phật ý với chị Na là đều bị đánh hết. Đợt nhậu trước chị cũng từng đánh anh Na rồi, đến anh Phụng còn than thở là “đánh như đánh con, đánh như đánh chó”. Rồi không vừa ý là chị vứt điện thoại xuống sông, hôm sau mua lại điện thoại mới cho anh”. 

Đến 22h ngày 10/8, nhậu hết 48 lon bia Huda, Na kéo Phụng vào một góc phòng, cách chỗ ngồi nhậu khoảng 1m, “đe dọa”: “Ngồi nhậu mà nói chuyện to quá”. Anh Phụng đã có lời xin lỗi nhưng Na vẫn tát vào mặt Phụng 2 cái. Chắc do đau quá và xấu hổ với mọi người nên chàng trai đứng dậy, chỉ vào những người “bạn em” của mình rồi nói: “1, 2, 3, 4, 5,6… Đừng nhậu nữa, ra về thôi”. 

Mọi người chuẩn bị dắt xe đi, Phụng bất ngờ quay lại vào trong, chạy đến gần chỗ Na đang ngồi, cúi xuống vừa nói, vừa hành động: “Hôn người yêu một cái trước khi ra về” rồi nói nhỏ thêm một câu gì đó, theo các nhân chứng “hình như là câu muốn chia tay”. Ngay lập tức, Na rút con dao Thái Lan vừa gọt trái cây để ở góc phòng đâm một nhát. Nạn nhân được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Trung ương Huế nhưng không qua khỏi. 

Theo kết luận của cơ quan pháp y, nạn nhân chết do bị đâm thủng 2 xương sườn số 5, số 6 và thủng xuyên tim. Sau khi được đưa về cơ quan công an, Na khai báo quanh co chối tội, cho rằng do giằng co nên Phụng mới bị trúng mũi dao chứ không hề có chuyện đâm chém. Nhưng trước lời khai của các nhân chứng và kết luận của cơ quan pháp y, cuối cùng Na phải thừa nhận đã ra tay sát hại anh Phụng.

Thay người tình trẻ như thay áo

Một người “em đời” của Na kể: “Chị là người giàu tình cảm, tiêu tiền rất thoáng nhưng ngày nào trong người cũng có mùi men hết, chị uống rất khó say, nhưng say lên là quay. Chị nhận được tiền “trợ cấp” của người yêu là một ông Việt kiều già rất nhiều tiền, chị kể tháng được gần cả trăm triệu, sau đó chị đi cho vay nặng lãi ở chợ. 

DƯƠNG TỰ TRỌNG LÀM...NHIỀU NGƯỜI KHÓC

Nhiều người òa khóc khi Dương Tự Trọng nói lời sau cùng

Đúng 8h sáng 28/8, Tòa án Hải Phòng mở phiên tòa xử sơ thẩm xét xử bị cáo Dương Tự Trọng (nguyên Phó Giám đốc Công an Hải Phòng) về tội danh “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Ngay từ sáng sớm, lực lượng cảnh sát đã thiết lập nhiều vòng bảo vệ quanh trụ sở tòa án. Các phóng viên phải trải qua việc đăng ký và kiểm soát khá gắt gao trước khi được vào đưa tin trong khu vực tòa án. Phóng viên không được mang theo điện thoại, máy ghi âm và USB phát 3G phục vụ cho việc tác nghiệp vào trong.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Dương Tự Trọng là ông Nguyễn Đình Hưng – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Chủ tọa phiên tòa là Thẩm phán Trần Thu Hà – Chánh tòa Hình sự Tòa án Nhân dân TP Hải Phòng.

8h30, HĐXX thẩm vấn Dương Tự Trọng: “Bị cáo biết Phong là tội phạm truy nã?”.

Dương Tự Trọng trả lời: “Phong có tên trong danh sách bị truy nã nhưng vì tôi quản lý chung nên không chú ý từng cá nhân trong danh sách, trừ khi có điều đặc biệt.Tôi không có liên hệ nào với Phong nên không có nguyên tắc động viên trực tiếp yêu cầu Phong ra đầu thú được”.

8h45, ở các câu hỏi sau của HĐXX, Dương Tự Trọng nhận mọi cáo buộc và thừa nhận lời khai của Vũ Tiến Sơn, Đồng Xuân Phong và các bị cáo khác là đúng.

Bên cạnh đó, bị cáo Dương Tự Trọng cũng khẳng định: “Cáo trạng nêu không đúng vì Công an TP. Hồ Chí Minh và Công an TP.Hải Phòng liên tục phối hợp để bắt các đối tượng truy nã, nhưng không phải đối tượng nào cũng bắt được. Khi nghe tin về anh Dũng (tức Dương Chí Dũng, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam), tôi gọi điện nhờ Vũ Tiến Sơn (Phó trưởng Phòng CSĐT Tội phạm về TTXH Công an thành phố) giúp. Sơn chuyển máy cho một ai đó nhưng không giới thiệu là ai. Sau này anh Dương Chí Dũng sang Campuchia thì Sơn mới nói người đó là Đồng Xuân Phong”.

Bị cáo Dương Tự Trọng thừa nhận hành vi đưa anh trai đi ra nước ngoài là sai. Nhưng hoàn cảnh lúc đó khiến bị cáo không có lựa chọn khác. Còn nói bị cáo lợi dụng chức vụ là không đúng…

9h30, sau gần một giờ xét hỏi, đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố giữ quyền công tố đã đọc bản luận tội và xác định đủ căn cứ xác định bị cáo Dương Tự Trọng có quen Đồng Xuân Phong. Bị cáo dù biết Đồng Xuân Phong đang bị truy nã song không chỉ đạo tổ chức bắt. Khi anh trai là Dương Chí Dũng bị khởi tố, bị cáo Dương Tự Trọng đã nhờ Đồng Xuân Phong đưa anh trốn ra nước ngoài. Hành vi này của bị cáo Dương Tự Trọng đã phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều cống hiến trong lực lượng công an, gia đình có công với đất nước, tại toà bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ. Viện Kiểm sát đề nghị mức phạt từ 12 đến 18 tháng tù.

9h45, được nói lời sau cùng trước khi HĐXX vào nghị án, bị cáo Dương Tự Trọng nói: “Tôi rất xúc động. Tôi bị giam lâu rồi không được về gia đình, về với Hải Phòng. Hôm nay nhìn ánh mắt hiền hậu của mọi người, tôi rất biết ơn. Tôi đã trao đổi với luật sư của tôi là không tranh tụng tại tòa. Với mức án thế nào tôi chấp nhận không kháng cáo không kêu oan. Bị cáo luôn tin tưởng vào HĐXX. Dù ở trong hoàn cảnh nào tôi luôn yêu thiết tha từng giây phút trong cuộc sống của mình. Tôi cảm ơn những đồng nghiệp đã cùng tôi gắn bố trong những năm tháng công tác tại Hải Phòng. Tôi tự hào về những năm tháng tôi đã công tác”.

Nhiều người thân, bạn bè của bị cáo Trọng ngồi phía dưới òa khóc.

Đầu năm 2011, khi còn là Trưởng phòng Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Trật tự xã hội (Công an Hải Phòng), Dương Tự Trọng đã có quan hệ mật thiết với Đồng Xuân Phong (cán bộ Đội Chống buôn lậu của Cục Hải quan Hải Phòng). Năm 2009, Phong bị Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố và truy nã toàn quốc do có hành vi buôn lậu. Ngoài việc gửi quyết định truy nã, Công an TP Hồ Chí Minh còn cử cán bộ trực tiếp phối hợp với Công an Hải Phòng để truy bắt Phong nhưng không bắt được.

Cuối năm 2011, Phòng Cảnh sát Truy nã Tội phạm Công an Hải Phòng có báo cáo rà soát đối tượng truy nã có hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng (trong đó có Đồng Xuân Phong) gửi đến Dương Tự Trọng (khi đó là Phó Giám đốc Công an Hải Phòng). Tuy nhiên, Dương Tự Trọng không triển khai, tổ chức truy bắt.

Đến tháng 5/2012, Dương Tự Trọng còn thông qua Vũ Tiến Sơn (khi đó là Phó Phòng Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Trật tự xã hội Công an Hải Phòng) để móc nối với Phong phối hợp tổ chức cho Dương Chí Dũng bỏ trốn ra nước ngoài.

Với hành vi tổ chức đưa anh trai trốn ra nước ngoài, tháng 5/2014 Tòa án Nhân dân Tối cao tuyên phạt Dương Tự Trọng 16 năm tù giam về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”. Còn Dương Chí Dũng đã bị kết án tử hình về các tội “Tham ô tài sản” và “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.

Sau phần nghị án, HĐXX tuyên phạt bị cáo Dương Tự Trọng 15 tháng tù giam. Như vậy, cộng với bản án hình sự phúc thẩm đã xét xử trước đó của TAND TP Hà Nội vào ngày 23/5/2014, tổng hình phạt chung dành cho bị cáo là 17 năm 3 tháng tù giam, đồng thời cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội trong vòng 1 năm sau khi mãn hạn tù.

Theo Petrotimes